HỎA HẬU PHẦN 1

25/11/2025

PHÀM LỆ ĐỂ HIỂU Ý NGHĨA LƯỢC ĐỒ HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ - VỀ CÁI HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ

 

         

            HỎA HẬU

 

 

A. PHÀM LỆ ĐỂ HIỂU Ý NGHĨA

LƯỢC ĐỒ HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ

   I. TƯỢNG TRƯNG

Lược đồ nầy là bản đồ tượng trưng, nghĩa là lấy một vật hữu hình nầy thấy được, mà giải một lý vô hình kia không thể thấy được. Thế thì hai bên vẫn mường tượng như nhau mà thôi, chớ không phải thiệt giống hệt với nhau về mọi khía cạnh.

-  Giả tỉ như muốn nói về hình tướng của con rồng, mà mấy ai thấy được con rồng, nên ta phải mượn hình con rắn là vật ta thường thấy mà giải cho mau hiểu. Nhưng con rắn chỉ là loại bò có bề dài … mường tượng như con rồng chớ đâu thiệt giống như con rồng. Cho nên ta cần phải tìm hiểu thêm, là con rồng còn có vảy, còn có chưn, bay lên Trời làm mưa, hạ xuống biển làm sóng, …

-  Chẳng khác nào trong Châu Dịch, người ta vẽ tám quẻ, chỉ dùng một vạch liền, một vạch đứt, tượng trưng cho hai khí Âm Dương có là độc chiếc, có ngẫu là cặp đôi; hay là có trống, có mái, có đàn ông, có đàn bà.

Tại sao mà một vạch đứt gọi là Âm, một vạch liền gọi là Dương? Cũng như tôi nói trên đó, chỉ hình mường tượng mà thôi, chớ không phải thiệt giống. Xin chư đạo hữu suy nghĩ, tìm hiểu thêm coi giống là giống chỗ nào?

Các kinh sách Tam giáo cũng thường nhấn mạnh chỗ đó. Vậy chớ nên xem tỉ dụ là hoàn toàn sự thiệt. Nó chỉ đứng về một mặt nào đó mà thôi. Hễ đứng về mặt đó thì trúng, sang qua phương diện khác là trật. Đọc kinh sách mà chấp nê văn tự, nghĩa là chấp nhứt một mặt, thì theo lời ông Mạnh Tử, rất có hại cho Đạo đó.

1. NÓI VỀ THƯỢNG ĐẾ BA NGÔI

 

Theo Triết học bây giờ, người ta nhìn nhận cái Tâm con người có ba phần lớn là: Ý CHÍ, TRÍ THỨC và TÌNH CẢM. Cho nên tôi ghi ba chữ đó trong ba vòng tròn lớn của Lược đồ, chớ khi Bề Trên ban xuống cái Lược đồ nầy, thì không có chữ chi hết.

Nếu nhứt định Lược đồ nầy giữ luôn ba chữ đó, thì khi giải qua một lý thuyết nào khác, thì quyết không thể đúng hết được. Nhưng nói rằng lý thuyết nào cũng có ba phần lớn đó, mà danh từ có khác nhau, ý nghĩa có rộng có hẹp, thì không có gì sai.

 

  • Như Thiên Chúa giáo gọi Chúa Ba Ngôi, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hay Chúa Thánh Linh.
  • Ấn Độ giáo cũng gọi Chúa Ba Ngôi, là Brahmâ, Vichnou và Shiva (dịch âm là: Phạm Thiên, Tì-mục thần và Tì-bà thần).
  • Phật giáo gọi là Tam Tôn, tức là A Di Đà, Thế Chí Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát theo Tịnh độ tông; hoặc là Ba Đức: Tì-lư Giá-na, Lư-xá-na, Thích Ca Mâu-ni theo Tây Tạng Mật giáo; hoặc là Ba Thân là: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, theo Đại thừa …
  • Đạo giáo gọi là: Tam Cực tức là Vô Cực, Thái Cực, Hoàng Cực, nói về Vũ trụ; hoặc là Tam Thanh, là Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh, nói về tiểu thế giới.
  • Nho giáo gọi là: Thiên Mạng, Đạo, Giáo theo sách Trung Dung; hay là Mạng, Tánh, Lý, theo sách Tánh Lý. Ngoài ra, cũng gọi là Thiên, Hoàng Thiên, Thượng Đế.

Cách xưng tụng tuy khác nhau, lý thuyết nào theo lý thuyết nấy, nhưng sự thật cũng tương tợ như nhau.

Đạo Minh Lý cũng gọi là Chúa Ba Ngôi, tức là Tam Cực như nói trên, mà thờ ba vị là Diêu Trì Kim Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng Đế và Hồng Quân Lão Tổ, đại diện Tam Cực, để mở đạo Minh Lý. Xưa kia các phái cũng có thờ ba vị đó, mà thờ riêng rời rạc, không có hiệp chung cả ba, làm đại diện nói đây, có lẽ chưa phải thời kỳ. Vì trước đây cũng ít người nói đến Hoàng Cực, dầu có nói đến cũng không định nghĩa và thứ tự rõ ràng. Thời hiện kim mới chánh là thời kỳ Hoàng Cực.

Xin chỉ rõ: Minh Lý thờ Ba vị đại diện thế Tam Cực, theo thứ tự như sau nầy:

  • Diêu Trì Kim Mẫu              (Vô Cực)
  • Ngọc Hoàng Thượng Đế  (Thái  Cực)
  • Hồng Quân Lão Tổ            (Hoàng Cực) 

Đạo Minh Lý đâu phải tự xưng mình là thông hiểu hết các đạo, hay là gồm thâu các giáo đó. Nhưng đạo Minh Lý do Bề Trên tạo một Lược đồ, có thống hệ, để cho người học đạo biết rõ đại khái lý thuyết của đạo mình, mà phăng về nguồn cội và cũng theo thống hệ đó, để tìm hiểu biết các giáo khác làm trợ duyên.

2. NHƯNG BA NGÔI CŨNG CÙNG MỘT GỐC

Một mặt khác, ba vòng tròn lớn đó từ đâu mà có, phải là từ cái tam giác màu trắng phát xuất ra chăng?

Chia ba thì nói có ba ngôi, mà hiệp lại thì chỉ có một gốc mà thôi, nhưng tùy theo mỗi lý thuyết, hoặc gọi là Chúa, hoặc gọi là A Đề Phật Đà, là Oai Âm Vương, hoặc gọi là Thượng Đế, hoặc gọi là Thật tướng, hoặc gọi là Bổn thể, …, nhiều danh từ xưng tụng khó mà kể xiết.

Song lấy tinh thần mà hiểu, có phải là MỘT Đấng Chúa tể cai trị Kiền Khôn thế giái đó chăng? Không lẽ trong Võ trụ lớn như thế nầy, nhựt nguyệt tinh tú vần xây có luật tắc hẳn hòi, mà không có chủ quyền, thì làm sao mà nó tồn tại lâu dài được? Tuy cũng có lúc đụng chạm, xung đột nhau, mà rốt cuộc cũng được điều hòa, vững chãi, có loạn rồi sau cũng sắp xếp xong.

Tuy về chi tiết, mỗi thuyết đều hiểu lý có khác nhau tùy người tác giả lạc quan hay bi quan. Nhưng sự thật, thế giái nầy dầu có loạn lạc đến đâu cũng không thể đi tới mức tiêu diệt: loạn rồi trị, trị rồi loạn, bất quá là cơ biến dịch, sanh thành theo kinh Châu Dịch mà thôi.

Nếu không có cơ sàng sảy, chọn lọc, có lúc đau khổ, có lúc yên vui, thì làm sao biết được giá trị con người: người quân tử hay kẻ tiểu nhơn, người anh hùng hay kẻ hèn nhát. Nên có câu: “Quốc loạn thức trung thần, Gia bần tri hiếu tử”, là đúng lắm! Ngoại cảnh có thay đổi, mà lòng người vẫn một mực trung kiên, cứ lo tu hành, trau dồi đức hạnh, làm một công dân xứng đáng, thì có ngày sẽ hưởng phước chẳng sai. Bằng ủy mị trước nạn khổ, bối rối trong lòng, thì có giải quyết chi được, mà chỉ làm cho nạn khổ càng thêm lớn đó thôi.

3. MUÔN VẬT DO THƯỢNG ĐẾ MÀ CÓ

Thượng Đế là nguồn đầu sanh hóa, lấy Lý làm Tánh, lấy khí Âm Dương, Ngũ hành làm thân thể cho mọi người, mọi vật. Lý ấy là Nguyên lý bản sơ, cũng đồng với Nguyên lý bản sơ của Thượng Đế.

Nói về Tánh lý thì giống y, mà khác ở thân thể. Cho nên Tánh người bị vật dục của xác thịt che án, mà không đặng sáng suốt như Thượng Đế. Vì đó mà chúng sanh bị luân hồi sanh tử, càng ngày càng xa với nguồn đầu, không biết chừng nào có thể trở lại hiệp cùng Trời.

Trong Lược đồ, ta thấy có ba màu Vàng, Xanh, Đỏ, rồi ba màu ấy trộn lẫn nhau như sáu màu trong hình múi quít mà thành ra có nhiều màu khác nữa, như Xanh (lá cây), Tím, Hỏa Hoàng, … Đó phải là có ý nói: Trời sanh ra Võ trụ, hằng hà sa số người vật chăng? Đó có phải là câu nói: “Nhứt bổn tán vạn thù”, nghĩa là: Một gốc mà sanh ra muôn vàn sai biệt đó chăng?

4. RỒI NGƯỜI – VẬT TRỞ VỀ VỚI THƯỢNG ĐẾ

Tại sao người vật xa lìa Thượng Đế, rồi lại phải trở về với Thượng Đế?

Đó là một vấn đề mấu chốt của các tôn giáo, tuy cách giải bày có khác nhau, mà trở về với Thượng Đế hay là với Phật Đà, thì giáo nào cũng đều dạy y như thế cả.

  • Người thì nói tại vô minh, mà vô minh là tự mình tối tăm, phải dẹp dục vọng, cầu thấy bổn tánh.
  • Người thì nói: Để học hỏi, để tiến hóa.
  • Người thì nói: Luật Trời tuần huờn phải có đi, có về, có xuống, có lên, …
  •  Người thì nói: Võ trụ mênh mông như thế nầy, không lẽ không có người vật.

Đây tôi không trả lời câu hỏi nêu trên đó, thuộc về chi tiết, để cho mọi người theo trình độ tự tìm mà học. Mà trên đã nói: “Nhứt bổn tán vạn thù”, còn đây phải chăng là “Vạn thù qui nhứt bổn”, nghĩa là muôn mối sai biệt trở về một gốc?

              Đạo Minh Lý gọi đó là: PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN.

Thỉnh các đạo hữu nên suy nghĩ năm điều nói trên, thì thiết tưởng muốn hiểu ý nghĩa Lược đồ Hỏa hậu cũng không mấy khó.

Xin tóm tắt các lời nói trên:

  1. Trong vô có hữu.
  2. Hữu đó tột sáng suốt, là Thượng Đế, có vô lượng tánh công đức.
  3. Hữu đó sanh hóa muôn vàn chúng sanh.
  4. Chúng sanh đi xuống đây có mục đích gì?
  5. Phải làm sao để trở về Ngôi xưa vị cũ?

B. VỀ CÁI HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ

Hôm nay, là ngày Lễ Kỷ niệm Minh Lý Đạo Khai. Theo thường lệ, tôi xin giảng một bài đạo đức, để nhắc nhở các đạo hữu về phép tu thân hành đạo. Vấn đề đem nói hôm nay là giải nghĩa cái bản đồ căn bản, cũng gọi là HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ, tức là cái biểu hiệu thượng trên nóc chùa Tam Tông Miếu. Ai là người Minh Lý môn sanh cần phải hiểu biết ý nghĩa của cái biểu hiệu đó.

I.  DUYÊN KHỞI

Chính Đức Thái Thượng Đạo Tổ, khi ban sơ khai đạo, cậy Đức Khổng Thánh Văn Tuyên Vương ban xuống cái biểu hiệu nầy cho đạo Minh Lý. Lúc ban xuống, Đức Khổng Thánh có nói rằng: “Cái họa đồ nầy đã có cho bên Tây vực một lần, mà chẳng ai biết dùng”.

Ngài có giải nghĩa sơ và còn dặn mỗi người phải ráng mà nghiên cứu thêm. Nhưng với trí thấp thỏi của chúng ta, dẫu trọn đời chúng ta cũng chưa chắc là hiểu nhiều được, nếu không có Ơn Trên mở trí và giảng giúp.

Tôi nói giải nghĩa cái Hỏa hậu, kỳ thiệt chỉ giải được một phần thô cạn nào mà thôi. Theo lời Bề Trên dạy, nghĩa Đại Đạo đều gồm có đủ ở trong đó. Cho nên càng nghiên cứu, chúng ta sẽ càng thấy nghĩa mầu nhiệm của nó rộng rãi vô biên.

II. NGHĨA CHỮ HỎA HẬU

Trước hết, xin giải nghĩa hai chữ Hỏa hậu. Chữ hỏa có nghĩa là lửa; hậu là thời hậu, giờ khắc. Hiệp lại, hai chữ có nghĩa là giờ khắc dùng lửa.

Theo phép luyện đạo, mỗi giai đoạn đều có khác nhau, chớ không phải dùng một phương pháp cố định mà tu hoài. Chẳng khác nào một người học trò đi học, ban sơ ngồi lớp dưới, rồi sau lần lần lên lớp trên, mỗi lớp đều có tiến bộ.

Đạo Minh Lý có năm lớp học: Dự bị, Sơ cơ, Ngoại dược, Nội đơn, Thần hóa; mà ba lớp sau mới là quan trọng, nên hành giả cũng phải theo thứ tự mỗi lớp mà học tiến lần lần cho đến quả vị cứu cánh. Đây là nghĩa Cấp đẳng.

Lại trong mỗi lớp, mỗi ngày học hỏi đều có thời biểu, nghĩa là có bản nhứt định các môn học, ngày giờ nào học môn chi, hay là lúc nào nghỉ giải trí. Đây xin lấy một việc nấu cơm mà ví dụ.

Người nấu cơm phải biết lúc nào nên chụm lửa hỏa hào, lúc nào nên bớt lửa, lúc nào nên tắt lửa để lửa than. Nếu chụm lửa không đúng phép, thì cơm sình, cơm khét, hoặc cơm bị khô cháy.

Về phép tu luyện cũng thế, mỗi đoạn công phu phải dùng lửa cho hiệp pháp, cho đúng kỳ, đừng thái quá hay bất cập, thì đơn mới thành tựu. Nếu sai một mảy lông thì trật xa ngàn dặm. Cho nên Đơn kinh có câu “Luyện đơn toàn bằng hỏa hậu thành công”, nghĩa là: Người luyện đơn đặng thành công, là nhờ biết hỏa hậu và y theo đó mà tu. Nghĩa nầy có thể gọi là nghĩa Phanh luyện.

Hai nghĩa nói trên rất tỉ mỉ, ai có học lớp Huyền công mới hiểu biết được. Còn cái nghĩa thứ ba là nghĩa Qui nguyên, mới là mục đích chánh của đạo Minh Lý.

Về cái nghĩa sau nầy, Đức Khổng Thánh có dạy: “Phàm con người muốn trở về quê cũ, trước phải biết mình do nơi đàng nào xuống đây, thì phải theo đàng đó mà về mới khỏi lạc lối”. Nói cho đủ chữ, nghĩa nầy cũng gọi là Phản bổn huờn nguyên.

Chúng ta vì vong thân phóng khí, càng ngày càng đi xa căn bản, nên phải chịu đọa lạc. Nay ta gặp cái họa đồ nầy, thì khá noi phương pháp của đạo mà tìm phăng trở về gốc xưa vị cũ. Gốc xưa vị cũ ở đâu? Đó là một điểm trong vòng tròn nhỏ, ở chính giữa họa đồ, tức là Thượng Đế.

III. Ý NGHĨA CỦA LƯỢC ĐỒ HỎA HẬU THEO NGƯỜI TÂY PHƯƠNG (Luận đại lược theo các học thuyết)

Theo người phương Tây, cái biểu hiệu nầy là lược đồ của Chúa Ba Ngôi. Chúa Ba Ngôi, nghĩa là Thượng Đế, chỉ có Một vị mà gồm có ba Đức Tánh lớn, lấy đó mà lập riêng ba Ngôi cho dễ phân biệt.

   1. HÌNH TAM GIÁC

  

Hình ở trung ương màu trắng, một tam giác, một vòng tròn nhỏ và một chấm ở giữa, tượng trưng cho ngôi Chúa Cả gồm luôn hết ba đức tánh, chưa phân tách riêng biệt. Ba đức tánh nầy, vì tiềm tàng chưa phát biểu ra ngoài, nên giữ nguyên vẹn ngôi hiệp nhứt hồn nhiên như có một.

Ngôi Chúa Cả hay là ngôi Bổn thể. Ngôi nầy tự trong Ngôi Hư vô tuyệt đối[1] tức là Ngôi Vô thể mà xuất hiện. Hai ngôi nầy không phải riêng biệt nhau, mà chỉ là hai phương diện của một linh thể.

  • Cái màu Trắng tượng trưng cho Ngôi Hư vô, vì nó trải khắp các nơi, tuy thấy có nhiều màu sắc khác nhau, mà hiệp hết lại tại trung ương thành một màu Trắng.
  •  Còn hình Tam giác tượng trưng cho Trời hữu thể, mà phân ra có ba đức tánh. Tuy ba đức tánh nầy còn tiềm tàng, mà nó đã bắt đầu có hình tướng (rất tế vi).

Cuốn Cõi Thiên Đường (La Cite céleste) của bác sĩ Fugairon có nói: (Việt dịch) nghĩa là: Cái Đạo có lực lượng tự hiện linh thể không bến bờ, nó bao quát tất cả các lực lượng khác: Một cái lực lượng thứ nhứt, tự nó và bởi nó, từ chỗ không mà thành ra có, trọn vẹn, không có ranh mức, bởi nó sanh ra không nhờ tha lực, cũng không bị chướng ngại, nên thật hiện hoàn mãn linh thể một cách tuyệt đối, đó là Thượng Đế.

Cuốn Giáo Lý Huyền Bí Tiết Yếu (Abrégé de la Doctrine secrète) của bà Blavatsky, Chánh Hội trưởng ThôngThiên Học, cũng có nói: (Việt dịch) nghĩa là: Ngôi thứ nhứt, hay là ngôi Đạo duy nhứt, xưa gọi là Châu vi (vòng tròn) của Trời, tượng trưng bằng một điểm giữa trong một vòng tròn (châu vi) hay là trong hình tam giác (ba góc bằng nhau). Điểm đó gọi là Logos, là Thần, là Chúa Trời.

Theo Thiên Chúa giáo, Logos là ngôi thứ nhì của Đức Chúa Trời.

Ngoài hình Tam giác ở giữa, xung quanh có ba vòng tròn Vàng, Đỏ, Xanh.

   2. VÒNG TRÒN LỚN MÀU VÀNG

 

Trong vòng tròn lớn thứ nhứt, màu Vàng, ở trên, chư quí ông chư quí bà thấy chữ Ý (Volonté), đó là Ngôi thứ Nhứt, một ngôi của ba ngôi Thượng Đế.

Từ trong chỗ Hư vô mà sanh ra hữu, từ chỗ bất giác mà sanh ra giác, ngôi Thượng Đế đã thành hình, nhận thức có mình, vì một cái linh thể chỉ đặng thể hiện thực tại, hoạt động như mọi cá thể, là khi mình tự nhận thức được Chơn tâm của mình (conscience de Soi).

Lần đầu tiên, ngôi Thượng Đế tự thể hiện, chánh là Ngôi Nhứt, không có ai khác hơn mình nữa, mà làm trở ngại, nên việc thể hiện đó đặng hoàn toàn tự do, muốn chi cũng đặng theo ý nguyện của mình cả. Cho nên ngôi nầy có ý chí lớn mạnh hơn hết, mới ghi chữ Ý ở đó.

Các nhà Triết học và Đạo Đức thường bàn cãi với nhau, về chỗ Trời có ý chí hay là không có ý chí. Nếu luận về ngôi Hư vô (Dieu principe) thì thật chưa có ý chí. Còn tới khi tự hiện ra một linh thể rồi, thì các đức tánh đều có đủ như mọi cá thể, nhưng khác ở chỗ các đức tánh đặng hoàn toàn rất mực, nên nói rằng Thượng Đế không có ý chí, là vô lý.

Cái Ý chí nói đây chẳng phải hẳn riêng có một mình nó, mà cũng vừa có trí sáng (như Ngôi Nhì) và tình cảm (như Ngôi Ba) sẽ nói sau đây. Nhưng ở ngôi Nhứt, hai đức tánh sau nầy, có phần yếu hơn, nên trong vòng tròn lớn màu vàng, ghi chữ ý có dính hai khoảnh màu đỏ và màu xanh (như múi quít) tượng hình hai đức tánh sau nầy phải nhỏ hơn.

Đạo Ki Tô gọi ngôi nầy (Ý chí) là Chúa Cha (Tiếng Hy Lạp là Arché).

   3. VÒNG TRÒN LỚN MÀU ĐỎ

 

Trong vòng tròn lớn thứ nhì, màu Đỏ bên tả, là Ngôi Hai. Một khi Ngôi Nhứt đã tự nhận biết Mình rồi, thì lẽ tự nhiên cũng nhận biết có cái chẳng phải là mình.

Cái chẳng phải mình nói đây là Ngôi Hư vô (Vô thể). Sau khi Thượng Đế Ngôi Nhứt tự thể hiện rồi, còn để một phần thể chất (substanceéther) trong đó, bởi còn tiềm tàng chưa phát biểu ra ngoài.

Theo thuyết Fugairon, phải có sự kích thích của Thượng Đế mới có sanh hóa. Tuy nói Thượng Đế sanh hóa, kỳ thiệt, Ngài chỉ dùng phép kích thích ngôi Hư vô mà thôi. Nếu gọi Thượng Đế Ngôi Nhứt là Cha, thì Ngôi Hư vô thành ra Mẹ của sự sống (Mère de vie ou Cénone).

Trong Hư vô, có đủ các Lý cần phải hiểu biết Thượng Đế muốn rõ các Lý đó khác hơn mình, mới đem ý chí sáp nhập với các Lý đó, rồi do sự sáp nhập nầy mới nảy ra ánh sáng thiêng liêng, khoa học tạo hóa, tức là trí huệ. Cho nên nói: Ý chí sanh ra Trí Huệ, hay là nói một cách khác: Ngôi Nhứt sanh ra Ngôi Hai.

Trí huệ của Thượng Đế nhận biết bằng cách trực giác, rất đơn giản. Ngài mới phân biệt ý tưởng nầy với ý tưởng kia, ý tưởng kia do ý tưởng nọ diễn dịch ra, mới biết sự quan hệ giữa các ý tưởng, …,  sự nhận biết nầy là thứ nhận biết chơn chánh, viên mãn. Thế thì ở Ngôi Hai, phần Trí Huệ trỗi hơn hết, nên ghi chữ Trí (Sagesse) trong vòng tròn lớn, mà cũng có kèm theo hai khoảnh nhỏ, màu vàngmàu xanh, tượng trưng Ý và Tình.

Đạo Ki Tô gọi Ngôi nầy (Trí huệ) là Ngôi Chúa Con (Tiếng Hi Lạp là Logos)

   4. VÒNG TRÒN LỚN MÀU XANH

 

Trong vòng tròn lớn thứ ba, màu Xanh, ở bên hữu, là Ngôi Ba.

Như trên đã nói: Nếu Thượng Đế muốn biết và đã thiệt biết rồi, thì Ngài lại có Tình cảm (Sentiment ou amour), đem lòng yêu mến tất cả các chỗ biết đó. Tình cảm do Ý chí Trí huệ sanh ra, nghĩa là do Ngôi NhứtNgôi Hai phối hiệp mà có.

Cái tình cảm nầy là thú tịnh lạc (vui sướng thanh cao) do nhứt bổn (một gốc) mà chia ra vạn thù (muôn hình sai biệt), rồi vạn thù quày về nhứt bổn. Tỉ như hơi thở có ra (hô), có vào (hấp), cấu thành đời sống của Thượng Đế.

Ở Ngôi Ba, tình nhân ái lớn hơn hết, cho nên ghi chữ Tình ở vòng tròn lớn màu xanh. Vì Tình nầy vừa sáng suốt, vừa có ý chí, nên lại cho xen vào hai khoảnh nhỏ màu vàngmàu đỏ làm tượng trưng.

Đạo Ki Tô gọi Ngôi nầy (Tình cảm) là Chúa ThánhThần hay là Thánh linh (tiếng Hi Lạp là Zoe).

  1.  Tôi xin tóm tắt lặp lại: Thượng Đế ở trong Vô thể mà ra, có ba ngôi: Chơn lý, Khoa học, Sự sống. Ba ngôi nầy chẳng những khác nhau, vì mỗi ngôi đều có một Tánh Đức (hoặc ý chí, hoặc trí huệ, hoặc tình cảm) mà thôi, lại còn quan hệ với nhau, gọi là Chúa Cha, Chúa ConChúa Thánh Thần.
  • Tại sao gọi Ngôi Nhứt là Chúa Cha? Bởi Ngôi nầy sanh ra Ngôi Hai.
  • Tại sao gọi Ngôi Hai là Chúa Con? Bởi ngôi nầy do Chúa Cha sanh ra.
  • Tại sao gọi Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần hay là Thánh linh? Bởi Ngôi nầy do hai Ngôi trước mà sanh ra, như hơi thở của hai ngôi trước, nên cũng gọi là Sanh khí (Souffle de vie).

Vậy thì cùng chung một thân của Thượng Đế, mà có ba vai tuồng rõ rệt: Chúa là Chơn lý, là Cha; Chúa là Khoa học, là Con; Chúa là Sự Sống, là Thánh Thần.

Tuy phân có Cha, có Con, có Thánh thần, mà giải nghĩa cho dễ hiểu, chớ kỳ thiệt ba ngôi nầy cũng đều viên mãn, không có ai lớn hơn ai, không ai có truớc ai.

   5. SÁU KHOẢNH NHỎ HÌNH MÚI QUÍT

Người ta có thể so sánh Bản Đồ Của Chúa Trời (Etre parfait) với Phân Quang Đồ của Mặt Trời (spectre solaire).

  • Bản Đồ Của Chúa Trời (Trinité divine) có ba màu lớn: Vàng, Đỏ, Xanh (da trời) và màu nhỏ:
  1. Trong vòng tròn lớn màu Vàng, có hai khoảnh nhỏ múi quít ĐỏXanh trộn lại, thì thành màu Tím;
  2. Trong vòng tròn lớn màu Đỏ, có hai khoảnh nhỏ VàngXanh trộn lại thì thành ra màu Xanh lá cây;
  3.  Trong vòng tròn lớn màu Xanh, có hai khoảnh nhỏ VàngĐỏ, thì thành ra màu Hỏa Hoàng.

 

Theo ý ông Bác sĩ Fugairon, sáu màu nầy có thể tượng trưng:

  1. Màu Vàng tượng trưng cho quyền hành của người cầm quyền;
  2. Màu Đỏ tượng trưng cho sự trung thành, danh dự;
  3. Màu Xanh tượng trưng cho sự hòa vui, thái bình;
  4. Màu Hỏa Hoàng tượng trưng cho sự công bình, về sự thăng thưởng công trình;
  5. Màu Xanh (lá cây) tượng trưng cho sự thương xót, tha thứ;
  6. Màu Tím tượng trưng cho sự khiêm tốn, khôn ngoan.

   Sau đây là nói về khí phách.

6. KHÍ PHÁCH

Trên đã nói ngôi Thái Cực tối cao (Monade suprême) về phần tinh thần, tiếp theo tôi cũng xin nói sơ về phẩm khí phách.

Tinh thầnkhí phách là hai phương diện của một ngôi Thái Cực, chớ không phải ngoài Thái Cực riêng ra có khí phách. Hễ có tinh thần thì tự nhiên có khí phách, hai bên vẫn đi cặp với nhau luôn.

Về phương diện tinh thần, ngôi Thái Cực tối cao đã có ba mặt thì về phương diện khí phách ngôi nầy cũng có đủ ba mặt:

  1. Hấp dẫn (Attraction),
  2. Ánh sáng (Lumière),
  3. Điển lực hóa (Electrification).
  • Chúa Chasức hấp dẫn làm cho các Thái Cực khác còn ngấm ngầm trong ngôi Vô thể hiện thành hình. Lại Chúa cũng hấp dẫn các Thái Cực đó đến gần bên Ngài, làm cho chúng nó đặng phần hỉ lạc, chầu chực xung quanh Ngài mà tự lập thành một ngôi trung ương của vũ trụ. Hai sức hấp dẫn nầy cũng giống như nhau, mà sáng tạo các Thái Cực, có đức tánh y hệt như đức tánh của Thái Cực tối cao.
  • Chúa Con muốn phát biểu ý tưởng của mình, nghĩa là đem ý tưởng của mình mà dạy khắp chúng sanh, thì thành ra có một thứ rung động trong không khí, mà phần con người được dễ cảm hơn hết, là ánh sáng. Các rung động không khí đó phát biểu ý tưởng của Trời khoa học, tỉ như thứ rung động phát biểu ý tưởng của loài người, bằng máy vô tuyến điện vậy.

Ý tưởng đó có một mà đủ loại (nhứt bổn mà vạn thù), rồi chúng hiệp lại thành như một giàn nhạc, nên gọi là Ngôi Lời (xướng ngôn) của Trời (Verbe divin). Không khí lại sanh ra lửa đầu tiên vào thân của vạn vật, mới có sự nóng và sự sáng, lại hiệp các Thái Cực thành ra hình nầy hay hình nọ.

  • Chúa Thánh Thần phóng nhiều luồng điện đi ra, rồi cũng trở vàoNgài, cũng như ngôi tích cực phát điển Dương của vũ trụ, còn chúng sanh chung quanh Ngài là ngôi tiêu cực của điển Âm. Nhờ các luồng điện đó mà Ngài gieo sức hoạt động khắp nơi, làm cho chúng sanh triêm nhuận điển lực về phần xác cũng như về phần hồn, mới có sự tiến bộ, thối hóa; mới có sự xuống lên trong vật chất, mới có thành phần hay là tan rã. Nói một cách khác, là gieo sự sống (triêm nhuận điển lực hay là điển lực hóa).

Ba phần khí phách nói đây cũng có phần trỗi hơn, có phần yếu hơn và quan hệ với nhau như ba phần tinh thần nói rồi ở trên, nên đây xin miễn lặp lại.

Trên đó là ý kiến của người phương Tây, tôi đưa giải bày một cách thô thiển cho chư quí ông, quí bà đặng hiểu đại lược mà thôi.

IV. Ý NGHĨA CỦA LƯỢC ĐỒ HỎA HẬU CỦA ĐẠO MINH LÝ (Hay là Lược đồ theo người Đông phương vừa cải cách, vừa dung hòa với Tây phương).

Khi ban xuống cái Lược đồ nầy, Đức Khổng Thánh có nói rằng: “Bởi các người học đạo chẳng tới, nên làm hư cái Đạo của Ta. Nên Ta mới giáng xuống ban cho chư nhu cái bản đồ nầy, trước là giảng dạy, sau là chỉ cho chư nhu biết rằng Nho, Thích, Đạo chỉ có một gốc mà thôi”.

Vậy thì cái lược đồ nầy cốt để chỉ rõ ba tông giáo là Nho, Thích, Đạo đồng căn cứ vào một gốc lớn là Đại Đạo. Cho nên chúng tôi cũng gọi nó là TAM GIÁO ĐỒ. Tuy nói thế, chớ nếu ngoài ba giáo, chúng ta tìm hiểu rộng thêm, thì sẽ thấy nghĩa lý bao quát nhiều tôn giáo khác, mặc dầu là thuộc về Đông phương, hay như đã giải trên, thuộc về Tâyphương.

   A. ĐẠI ĐẠO HƯ VÔ[i]

Đại Đạo là chi?

Đạoluật thiên nhiên của Trời Đất, võ trụ, là Chơn lý tuyệt đối, vô thượng.

Vì Đạo tuyệt đối, vô thượng, trên khắp các nơi, không có chi lớn hơn Nó nữa, nên gọi là Đại (lớn). Còn nếu nói nhỏ, thì Nó ở trong hột bụi cát, ở trong đầu cây kim, nên cũng có thể nói: Không có chi nhỏ bằng.

Đó là màu Trắng ở chính giữa lược đồ nầy, trong hình tam giác.

Có kẻ nói rằng: “Đại Đạo của ông như vậy, còn Đại Đạo của tôi khác hơn của ông”. Nếu ai còn hiểu như thế là lầm. Vì chúng ta có ai rõ hết Đại Đạo, chỉ nghe được lời giảng dạy của các Giáo Chủ, hiểu được một phần nhỏ nào đó là may lắm rồi! Mà vì mọi người chỉ hiểu được một phần nhỏ, phần nhỏ nầy không giống với phần nhỏ kia, nên nói khác là khác ở chỗ đó, chớ lẽ nào lại có nhiều Đại Đạo khác nhau? Như trong một quốc gia, không lẽ có nhiều vua?

Một mặt khác, tôi nói chúng ta hiểu được một phần nhỏ nào của Đại Đạo Hư vô là chẳng phải hiểu ngay vào đó được, vì Hư vô là trống không, chẳng thấy có trẫm triệu, có dấu vết nào trong đó cả, thì làm sao mà hiểu biết gì được.

Kinh Thanh Tịnh nói: “Đại Đạo vô hình, ĐạiĐạo vô tình, Đại Đạo vô danh”, nghĩa là Đại Đạo không có hình tướng, Đại Đạo không có tình tự, Đại Đạo không có tên gọi. Nhưng nếu nói có bấy nhiêu, thì nói như không nói, làm sao mà hiểu được?

Cho nên lại còn nói tiếp: “Đại Đạo vô hình, sanh dục thiên địa; Đại Đạo vô tình, vận hành nhựt nguyệt; Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật”, nghĩa là: Đại Đạo tuy không có hình, mà vừa sanh vừa dưỡng trời đất; Đại Đạo tuy không có tình, mà vần xây mặt trời mặt trăng; Đại Đạo tuy không có tên, mà nuôi lớn cả người lẫn vật.

Thế thì tuy nói Đại Đạo Hư vô là trống không nhưng kỳ thiệt chẳng phải trống lỗng trống lơ, không có vật nào trong đó. Nếu không có Đại Đạo, thì không có chi tồn tại được. Đủ thấy trong trời đất không có chi chẳng nằm trong lòng Đại Đạo. Nên kinh Phật nói: “Chơn không diệu hữu”, nghĩa là: Tuy nói không mà thiệt là hữu, cũng như nói không tức là sắc.

Phải chăng không và hữu hay là không và sắc, là hai phương diện của một linh thể đó chăng? Nhưng chớ tưởng lầm là không và hữu là hai vật cách biệt nhau. Cho nên muốn tìm biết cái không kia, mà chẳng có cái hữu nầy, thì chẳng có đường lối nào khác mà tìm biết được.

Vậy tiếp theo đây, xin nói về Đạo Hữu thể. Đạo Hữu thể có hai phần: phần Tiên thiên và phần Hậu thiên. Phần Tiên thiên là khí rất tế vi, hay là Nguyên thỉ khí. Còn phần sau là hình khí, là khí Hậu thiên gần thành hình chất hay là ở trong hình chất.

   B. ĐẠI ĐẠO HỮU THỂ

       1. Phần Tiên thiên: Nhứt thể Tam giác.

Tiên nghĩa là trước, thiên nghĩa là trời.

Tiên thiên, nghĩa là: Có trước trời đất, tức là nghĩa câu Đạo Đức kinh: “Vô danh, thiên địa chi thỉ ”, nghĩa là: Đạo không tên (không biết đặt tên gì), mà có trước trời đất, là nguồn đầu sanh ra trời đất vậy.

Đây có ý nói: Tuy gọi là Đạo Hư vô, nhưng mà trong đó vẫn sẵn có chủng tử sanh ra trời đất. Vì chủng tử nói đây còn tiềm tàng chưa có dạng hình thấy được, mà chưa có dạng hình, thì biết dựa vào đâu mà đặt tên, nên gọi là Vô danh.

Chừng chủng tử phát sanh, lúc ban đầu chỉ có một thứ nguyên thỉ khí rất tế vi; khí ấy tức là Khí Tiên thiên. Do khí nầy mà phát sanh vạn vật. Nên Đạo Đức Kinh có câu: “Hữu danh, vạn vật chi mẫu”, nghĩa là: Chừng Đạo có tên, thì gọi Đạo là Mẹ của muôn vật. Hay là nói cách khác, từ trong Đạo Hư vô, lần đầu tiên xuất hiện một vị Tối cao, tự hữu nhi hằng hữu, bất sanh bất diệt, toàn trí toàn năng, gồm đủ hết các đức Tánh lành tuyệt đối. Đây xin nhắc lại:

Đạo Hư vô nói trước vị Tối cao nói đây chẳng phải là hai, bất quá là hai phương diện của một linh thể mà thôi.

  • Cũng như khi con người ngủ là lúc bất giác (insconcient), thân thể sanh sống, vận động theo luật thiên nhiên, nên ta có thể gọi thời kỳ nầy là Luật (Loi).
  • Đến khi con người thức giấc, là lúc giác (conscient), linh tánh chủ trương mọi hành động của thân thể, thành thử linh tánh chủ quyền, điều khiển, nên ta có thể gọi thời kỳ nầy là Đế (suprême).

Lúc ngủ cũng như lúc thức, chỉ là một con người mà hành động có khác nhau. Đây là tự ta phân ra hai thời kỳ mà xét, theo Lý trí (intelligence) cho dễ hiểu, chớ nào phải trong đó có hai người, hai thời đâu!

Nói về Đạo pháp, thì cũng thế, Luật (Hư vô) và Đế chỉ là một. Như cuốn Minh Lý Chơn Giải nói về vấn đề nầy: “Song không phải nhận hiểu theo thế gian: Hiến chương, luật tắc (tức là Luật) là bản giấy mà (riêng) có người cầm quyền lấy đó, để giữ nước yên dân (tức là Đế)”. Ý nói: Đừng lầm tưởng có hai.

Trên nói Đạo Hư vô là màu Trắng trong sạch, tóm thâu tất cả các màu khác. Còn đây nói Đạo Hữu thể là Tam giác có dạng hình; tuy luận có hai bên mà kỳ thiệt có một.

Thỉnh xem lại Lược đồ Hỏa hậu, ở chính giữa có một hình tam giác, trong hình tam giác có một vòng tròn và giữa vòng tròn có một chấm.

 

      Ráp cả ba thứ đó lại thì thành hình .  Đó là tượng trưng Đế hay là Thượng Đế ba ngôi:

          1. Ngôi Nhứt là hình vòng tròn, gọi là Vô Cực;

          2. Ngôi Nhì là một chấm giữa vòng tròn gọi là Thái Cực;

         3. Ngôi Ba là hình Tam giác, gọi là Hoàng Cực hay là Nhơn Cực.

Đó là Tam Cực. Cực có nghĩa là Tối cao; như trong một cái nhà, cực cũng có nghĩa là đòn dông, thì không có chi cao hơn nó nữa. Tam Cực tuy phân ra có ba ngôi khác nhau, mà kỳ thiệt là một thể cũng là Thượng Đế; tuy đặt ra có ba vai tuồng khác nhau, mà vẫn bình đẳng, không có cao thấp, nhỏ lớn.

Muốn rõ thêm nghĩa của Tam Cực, xin xem cuốn Minh Lý Chơn Giải của đạo Minh Lý (khoản Giải Nghĩa Chữ Lý).

Tại Chánh điện chùa Tam Tông Miếu, đạo Minh Lý: 

  • Lấy hình tam giác nầy làm đèn Lưu Ly treo giữa điện thờ, mà thờ Thượng Đế ba ngôi.
  • Phía dưới, có ba bài vị, sắp thành hình Tam giác là:

là ba vị đại diện cho Thượng Đế (Représentation de Dieu), đã dùng huyền cơ (pneumatographie) mà khai đạo Minh Lý.

   2. Phần Hậu thiên

Thỉnh xem lược đồ Hỏa hậu, có ba vòng tròn lớn:

 

 

 một vòng tròn màu Vàng có ghi chữ Ý,

 một vòng tròn màu Đỏ có ghi chữ TRÍ,

 một vòng tròn màu Xanh có chi chữ TÌNH.

2.1.  Ba vòng tròn lớn

  •  Chữ Ý: nói đủ chữ là ý chí (Volonté) trong vòng tròn giữa màu Vàng, tượng trưng cho Phật giáo. Vì Phật giáo Đại thừa lấy Ý làm căn bổn. Tuy Phật dạy có tam nghiệp là Thân, Khẩu, Ý, nhưng hai nghiệp thân, khẩu đều tùy theo Ý cả. Có phát Ý trước, rồi sau mới động tới thân, khẩu. Cho nên lấy Ý tốt hay xấu mà bình phẩm mọi việc của thân, khẩu. Hễ Ý tốt thì mọi việc làm đều tốt. Còn Ý xấu thì việc làm có hay, cũng là mất giá trị, thành xấu. Vậy Phật giáo ứng với chữ Ý hay là Ngôi thứ Nhứt Tiên thiên.
  • Chữ Trí: nói đủ chữ là trí huệ (Sagesse) trong vòng tròn bên tả màu Đỏ, tượng trưng cho Nho giáo. Vì Nho giáo dạy mở Trí làm gốc. Tuy sách Đại Học dạy có tám điều mục là: cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nhưng lấy hai điều: cách vật, trí tri làm căn bổn. Cách vật, trí tri nghĩa là: tìm hiểu mọi vật, mở mang sự hiểu biết, có phải là mở Trí chăng? Vậy Nho giáo ứng với chữ TRÍ hay là Ngôi Nhì Tiên thiên.
  • Chữ Tình: nói đủ là tình cảm (sentiment, amour) trong vòng tròn bên hữu màu Xanh, tượng trưng cho Đạo giáo. Vì Đạo giáo tuy dạy Đông dạy Tây, mà lấy chữ Tình làm cốt yếu. Có bài thơ nói về chữ Tình như vầy:

                                              Nhơn tình nồng hậu, Đạo tình vi,
                                              Đạo dụng nhơn tình, thế khởi tri?
                                              Không hữu nhơn tình, vô Đạo dụng,
                                              Nhơn tình năng đắc, kỷ đa thì?

                    Nghĩa Nôm

                                              Nhơn tình thô, Đạo tình tinh diệu,

                                              Đạo dụng tình người, ai biết nào?
                                              Chẳng có tình người, Đạo khó dụng,
                                              Nhơn tình mà đặng, có bao lâu?

Vậy Đạo giáo ứng với chữ TÌNH (tức là Đạo tình), hay là Ngôi Ba Tiên thiên

2.2. Sáu khoảnh múi quít [i]

Mỗi vòng tròn lớn lại có hai hình múi quít nhỏ khác màu.

Ba vòng tròn lớn hiệp lại, cộng thành có sáu hình múi quít nhỏ, hay là sáu đức: thông, minh, nhân, trí, hùng, lược.

Đó là sáu chữ do Bề Trên dạy và có giải nghĩa sơ lược như sau đây:

  • Thông: Chẳng phải nghe nhiều mà gọi rằng thông. Nghe rồi còn phải thực hành, tùy cơ ứng biến, nương theo thời thế mà giúp cho đời.
  • Minh: Chẳng phải biết nhiều mà gọi rằng minh. Nên phân biệt chỗ lợi hại, giúp người hiền tài thất vận, trợ kẻ ít học nên thân, ráng làm tròn phận sự đối với gia đình, xã hội.
  • Nhân: Chẳng phải ăn chay mà đủ gọi là nhân. Giúp người an vui, mở lòng từ bi quảng đại cứu vớt chúng sanh hoạn nạn, đói khổ, không cố chấp thù xưa, …
  • Trí: Chẳng phải tránh hết mọi việc thế gian, mà gọi là trí. Trí là có độ lượng rộng rãi, phòng ngừa hậu hoạn có thể xảy ra.
  • Hùng: Chẳng phải ráng cãi cho hùng hồn mà gọi là hùng. Hùng là tinh tiến, không vì khó nhọc mà lười biếng, không vì hoạn nạn mà giải đãi.
  • Lược: Chẳng phải khéo cầu an, tránh mỗi việc đều sợ liên lụy, mà gọi rằng lược. Lược là mỗi việc làm đều có sắp đặt phương pháp, tiên liệu thứ tự sau trước, để đạt tới thành công.
 

 

 

[1] Thiên Chúa giáo không nhìn nhận điều nầy, cho Chúa là có trước hết.

[i] Theo Đạo giáo xưa, Đạo Hư vô cũng có Kinh gọi tắt là Vô cực; Đạo hữu thể (gồm cả ba ngôi) gọi tắt là Thái cực. Còn Kinh Châu dịch cũng gọi là Thái cực, mà ông Châu Liêm Khê gọi là “Vô cực nhi Thái cực”. Nói đủ cả Tam cực, duy có Kinh Thanh Tịnh của Đức Thái Thượng Lão Quân, Giáo chủ Đạo giáo, nhưng không đồng thứ tự nói đây. Theo Phật giáo thì đạo Hư vô gọi là Pháp, đạo Hữu thể gọi là Phật. Phật có ba thân, gọi là Pháp thân, Báo thân, Ứng thân hay là Hóa thân. Theo Nho giáo, thì đạo Hư vô gọi là Thiên, đạo Hữu thể gọi là Thượng Đế. Lại có ba đức Mạng, Tánh, Lý. Danh từ tôn xưng tuy có khác, mà luận về thật thể, thì vẫn có một mà thôi.

[i] Theo Đại thừa Phật giáo, sáu khoảnh nầy có thể gọi là Lục Độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, bác nhã ứng với Ba Thân Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Theo Đạo giáo, sáu khoảnh nầy có thể gọi là Lục Đức: thông, minh, nhân, trí, hùng, lược ứng với Tam Thanh: Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh. Theo Nho giáo, sáu khoảnh nầy có thể gọi là Lục Hạp (sáu hướng) ứng với Mạng, Tánh, Lý.

Tin tức liên quan

Top