26/11/2025
BÌNH ĐẲNG - CỘNG TÁC - HÒA ÁI


Ngày rằm tháng bảy Tân Hợi (năm 1971)
NGUYỄN MINH THIỆN
Thưa chư quí ông, chư quí bà,
Thưa các đạo hữu lưỡng phái,

Cái tiêu ngữ (devise) của đạo Minh Lý, mà tôi đã giải nghĩa một lần rồi trong năm Đinh Dậu (1957), nay xin giải nghĩa vấn đề nầy lại một lần nữa.
Trước khi, tôi giải nghĩa là theo kinh sách xưa nay, về phần đời nhiều, nay xin phụ thêm các nghĩa của Thần Tiên mới giải theo cơ hội nầy, thuộc về Thiên đạo, có phần sâu xa hơn, mà mỗi người trong đạo cần nên rõ biết.
Cái tiêu ngữ này có ba cương lãnh là Bình đẳng - Cộng tác - Hòa ái. Trước khi giải nghĩa ba cương lãnh đó, tôi xin định nghĩa chữ tiêu ngữ.
Chữ tiêu cũng đọc là phiêu, có nghĩa là cây nêu (như nói mục tiêu hay mục phiêu).
Chữ ngữ nghĩa chánh là lời nói. Đây có nghĩa là câu hay chữ.
Hai tiếng tiêu ngữ ráp lại có nghĩa là một câu hay nhiều chữ nêu ra cái mục đích chánh đáng, cái chí nguyện cao cả mục đích chánh đáng, cái chí nguyện cao cả của một dòng dõi hay là một chi phái nào cho mỗi người biết đại lược và chú ý đến cái mục đích của dòng hay là phái mình mà tuân hành, dẫu không trúng lắm, chớ không quá xa lẽ Đạo (bất trúng tác bất viễn).

Bình đẳng là nghĩa gì?
Bình nghĩa là: bằng thẳng, không có gồ ghề cao thấp, như mặt nước ao hồ khi trời lặng gió.
Đẳng nghĩa là: hạng thứ, cấp bực. Như nói: thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng.
Hiệp hai chữ lại, bình đẳng có nghĩa là ngang bằng với nhau, cũng đồng một bực, không phải cao thấp, hơn kém.
Hai chữ bình đẳng giải nghĩa theo thế gian là: đứng trước pháp luật, về mặt tôn giáo, chánh trị, kinh tế, … thì con người ai cũng như nấy. Như người có quyền tước không đặng đàn áp kẻ thế cô, người giàu có không đặng bức bách kẻ nghèo nàn. Chi chi cũng phải lấy luật công bình làm cốt.
Các nước trên hoàn cầu đã có hội nhau mà nhìn nhận như thế. Nhưng thử hỏi, có mấy nước đã thi hành đúng theo nguyên tắc đó chăng? Vì vậy mà nước mạnh vẫn còn đàn áp nước yếu, nước nào cũng chỉ biết quyền lợi của mình, mà không kể chi quyền lợi của nước khác. Nói về cá nhơn thì còn tệ hơn nữa.
Tại sao?
Vì luật hiện hành chỉ là một luật của người thế hội nhau lấy phàm tâm mà đặt ra, không thiên bên tả thì cũng ngả về bên hữu, phần nhiều còn thiếu sót. Rồi người đứng ra thi hành, về mặt cá nhơn, lại có ý thiên vị, riêng rẽ, thì làm sao mà tránh khỏi lỗi lầm trong sự phán xét, xử đoán. Họ chỉ tìm hiểu về công dụng, mà ít để ý về bổn thể. Có để ý về bổn thể, như cây nêu dẫn đường, thì mới có thể nhứt luật thi hành, chỉ khác nhau là tùy theo trường hợp hữu ý vô ý, nặng nhẹ … mà thôi,
- Mà bổn thể là cái chi?
- Là Đạo, là Lương tri, Lương năng, là Thiên chơn, Phật tánh, tức là Bản nguyên sơ thỉ, nghĩa là: nguồn cội của Trời Đất Người (tam tài).
Cuốn Đạo Học Chỉ Nam giải nghĩa chữ Đạo như thế nầy: “… Với nghĩa gần của nó là: Chỉ dẫn cho loài người nói chung, cho đạo Minh Lý nói riêng, để thấy bản thể của Trời Đất, bản tánh của con người, bản năng của vạn vật. Ba thứ đó đều do một nguyên lý phát xuất mà thôi. Nguyên lý đó gọi là Đạo.
Muốn tìm biết cái Đạo, thì phải nhờ ở học. Học là noi theo, là bắt chước lấy. Có noi theo đó, bắt chước lấy đó, thì mới đồng nhứt với Đạo được. Cho nên sách Trung Dung nói: “Suất tánh chi vị Đạo”, nghĩa là noi theo bản tánh mới gọi là Đạo”.
Nhưng học có nhiều cách học, chẳng phải học theo lối thường bằng lý trí mà hiểu biết được Đạo, vì lý trí chỉ dùng giác quan mà hiểu hiện tượng bên ngoài, không thể đi sâu hơn nữa. Phải học bằng Tâm linh, bằng Thần, học cho tinh nghĩa nhập thần, mới là thông suốt đến bổn thể.
Kinh Châu Dịch nói: “Thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhơn”, nghĩa là: Mà Thần rõ biết được, chẳng phải tìm kiếm đâu xa lạ, nó ở nơi con người, trong nội tâm. Nhưng con người phải giữ tâm thanh tịnh, đạo đức, cho nên kinh Châu Dịch lại nói tiếp: “tồn hồ đức hạnh”, nghĩa là: Con người phải có đức hạnh, chí thành, hay là nói một cách khác: phải tu hành, bỏ dữ về lành, tham thiền nhập định, có định mới phát huệ. Vậy thì trí huệ, tiếng Phạn gọi Bác Nhã, là một điều kiện tối yếu để tìm về với Đạo.
Ai cũng đồng có Đạo trong mình hay là Bổn tánh bình đẳng, người nào cũng giống người nấy, vốn có một không hai. Cho nên cuốn Đạo Học Chỉ Nam nói: Trời Đất, người vật đồng có một nguyên lý như nhau. Trên đời, chỉ có một bổn thể ấy bình đẳng, hằng hữu mà thôi, ngoài ra là hiện tượng vạn vật, tất cả đều là sai biệt, biến dịch không ngừng.
Kinh Phật gọi cái bản thể ấy là “bất biến nhi tùy duyên, tùy duyên nhi bất biến”, nghĩa là: Cái bản thể chẳng dời đổi mà có duyên khởi thì phát hiện, tuy là phát hiện theo duyên khởi mà vẫn không dời đổi.
Theo Nho giáo, thầy Châu Tử cũng nói một câu đồng ý nghĩa đó: “Thánh nhơn chi tâm hồn nhiên nhứt lý, phiếm ứng nhi khúc đáng, dụng các bất đồng”, nghĩa là: Cái tâm của Thánh nhơn chỉ có một lý bình đẳng. Nếu đem nó ra mà dụng khắp các nơi, thì có công dụng khác nhau bất đồng.
Nay ta muốn chọn một mục tiêu bình đẳng, phải lấy bổn thể mới thiệt có tánh chất bình đẳng, mới là hằng hữu bất biến.

Cộng tác là nghĩa gì?
Chữ cộng nghĩa là: hiệp hai thành phần khác nhau, hoặc nhiều thành phần để ráp thành một cái kết quả tổng quát, vĩ đại, cũng gọi là hiệp tác.
Tác là tác vi, hành động.
Ráp hai chữ lại, cộng tác có nghĩa là: nhiều người chung sức, có mạnh có yếu, tiếp tay với nhau mà làm nên một việc nặng nề. Hoặc mỗi người đều có một khả năng đặc biệt, ráp lại các khả năng đó, để làm một việc vĩ đại. Tỉ như cất một cái nhà, cai trị một nước, sáng lập một mối đạo.
Đây nói cộng tác, là cộng tác bằng cách nào?
Như cất một cái nhà, phải có đủ thợ hồ, thợ mộc, thợ đúc béton, … ai ai cũng đều rõ biết.
Còn cai trị một quốc gia, thì cũng phải nhiều người, nhiều bộ phận, có vua, có quan, có tướng, có binh, … Như vua cầm đầu một nước, truyền mạng lịnh, còn quan là người thừa hành mạng lịnh đó, có tướng điều khiển muôn binh, có binh đông đủ để trừ dẹp bọn thực dân xâm lăng, kẻ hung bạo cướp bóc, … mới bảo vệ được nước nhà. Đủ thấy: thiếu cộng tác thì không có việc nào đặng thành tựu.
Cuốn Đạo Học Chỉ Nam mượn ví dụ để giải rõ vấn đề nầy như sau: “Một khu vườn xinh xắn là một tập hợp bao cá thể, từ những viên sỏi nhỏ bé, đến làn nước xanh mờ, len lỏi dưới hàng hoa sặc sỡ, dưới cụm tùng bá uy nghi. Cái hiệp không tranh ấy tạo một khung cảnh phối hợp từ màu sắc đến hương vị, cả một ý tưởng thanh thoát của con người chiêm ngưỡng. Hình thể, vật thể, ngắn dài, tròn vuông, mọi sự vật mang hình thái riêng biệt, phơi mình dưới ánh sáng thiên nhiên, nhờ vậy mà trắng đen đen trắng tương hiệp cùng nhau”. Đó là nói một khu vườn đặng xinh xắn, là nhờ sự hiệp tác của nhiều vật nhiều hình, nhiều hoa màu, nhiều cây cỏ … mà đặng xinh xắn như thế.
Sau đây là một cái ví dụ khác nói về âm nhạc: “Tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng thanh trong, tiếng đục vẫn điệu hòa vào nhau dưới tay điều khiển tế vi của nhạc trưởng. Nhạc âm không chống chỏi nhau, mà trái lại nương tựa nhau, trông nhờ nâng đỡ nhau, khiến cho tâm hồn con người vẫn quyến luyến nhau không rời được”.
Chẳng phải người vật ở cõi trần nầy hiệp với nhau; cho đến cõi người cõi Trời, người cõi trần cũng phải cộng tác với nhau mới là vui đẹp. Cách cộng tác này gọi là “Thiên nhơn hiệp nhứt”, nghĩa là Trời người cùng hiệp làm một. Cũng gọi là: “Thiên nhơn dữ nhứt”.
Nhân dịp giáng chứng minh lễ hoàn thành cuốn kinh Đạo Học Chỉ Nam, Đức Thái Thượng Đạo Tổ có lời dạy như sau:
“Chư đệ tử! Bần Đạo giáng đàn trong giờ nầy, để ban ơn cho những nguyên căn có phận sự, từ thượng giới đến trần gian, chư đệ tử đã có ý thức được câu “Thiên nhơn hiệp nhứt”. Vậy Bần Đạo miễn lễ cho toàn thể chư đệ tử đồng an tọa để nghe lời huấn dụ.
Chư đệ tử! Câu “Thiên nhơn hiệp nhứt” là chư đệ tử vừa nghe qua đó, ý nghĩa thật thậm thâm vô cùng. Trong phạm vi đàn hôm nay, Bần Đạo chỉ nói sơ qua một khía cạnh rất nhỏ của câu ấy, có liên quan đến chư đệ tử.
Cõi thế gian được dựng nên, tuy do phép nhiệm mầu của Đấng Tạo Hóa, nhưng nếu không có nhơn, không có vật để góp phần tô điểm cho cõi dinh hoàn nầy cũng không thể được. Như quyển Đạo Học Chỉ Nam, dầu Hưng Đạo Đại Vương, dầu Vạn Hạnh Thiền Sư sẵn có đạo lý uyên bác đến đâu, nếu không có cõi hữu hình, hữu thể nầy tiếp kinh, cũng phải đành bó tay chịu vậy. Nếu không có bộ phận Thông công, không có Thánh Hội Minh Lý chư đệ tử phát tâm phụng thừa, không có Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, thì dầu những nhiệm mầu vô hình kia có linh hoạt đến đâu, cũng không thể thực hiện được.
Chính vì chỗ tầm quan hệ đến đó, từ cõi Thượng giới đế cõi Hồng trần, đã phối hợp hiến dâng trọn vẹn, mới được thành tựu những gì mà chư đệ tử vừa thành đạt được, …”.
Xưa có câu: “Nhứt bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhứt bổn”, nghĩa là: Nhứt bổn là cái Đạo nói trước kia rải rác khắp nơi, bây giờ là thời kỳ phải trở về với Đạo là Nhứt bổn. Nếu không hiệp tác thì làm sao qui nhứt mà trở về với Đạo được. Không về với Đạo, thì phải chịu luân hồi sanh tử, không biết ngày giờ nào đặng giải thoát các sự đau khổ ở trần gian. Thế thì cộng tác nói đây có một mục đích tối thiêng liêng: cùng tu giải thoát.
Chư đạo hữu nên nhớ luôn luôn hai chữ Cộng tác, thì chúng ta mới đạt mục đích. Không nên bất cứ một lý do nào, mà sanh lòng nghịch lẫn nhau, chia rẽ nhau, vì đó là tự mình giam hãm trong cửa luân hồi sanh tử.
Lại chúng ta cộng tác vì một mục đích cao cả, chơn chánh, ích lợi chung cho mọi người, cho tất cả nhơn quần xã hội. Tỉ như giúp đỡ nhau trong cơn tai biến, hoạn nạn khổ đau, hay là dìu dắt nhau để học hỏi mở trí, để tiến bước trên con đường lành, theo lẽ chánh Đạo, chớ không phải vì quyền lợi cá nhơn, cầu sự giàu sang riêng cho mình. Nếu ai muốn tìm quyền lợi cá nhơn, cầu sự giàu sang riêng cho mình, thì nên biết trước đây không phải là chỗ cầu như thế, thì sau nầy mới khỏi phải thất vọng.
Cuốn Đạo Học Chỉ Nam lại nói thêm: “Hiệp tác mà không hòa, thì chẳng hóa ra là không hiệp. Hiệp lại với nhau trong bầu trời hòa ái, mới đưa đến kết quả mong muốn. Hiệp và hòa là hình với bóng. Hiệp là ngôi nhà, hòa là nền móng. Ngôi nhà đại đồng có đứng vững hay không là phải đủ hai điều kiện tác động đó”.
Vậy kế theo hai chữ Cộng tác, xin tiếp giải về hai chữ Hòa ái.

Hòa ái là nghĩa gì?
1. Trước xin giải nghĩa chữ Hòa
Hòa nghĩa là thuận thảo với nhau, vui hiệp cùng nhau. Trái với chữ Hòa là có lòng chia rẽ, chống báng công kích lẫn nhau.
Hiệp là hòa cùng nhau, cũng như đường bỏ trong nước, đường tan ra trong nước lộn lạo không còn thấy đường nữa; nhưng nếu bỏ đường vô nước nhiều quá, thì tới một mức độ nào đó (degré de saturation), đường hết sức tan, mà ta thấy dưới đáy nước đọng một lớp đường. Đó là hiệp mà không hòa. Hoặc là nước với dầu, hai bên khác chất, nên đổ chung lộn nhau khó mà hòa được.
Vậy hiệp mà muốn hòa cũng có điều kiện, cũng có mức trung, nên cũng phải có phương pháp, chớ không phải nói hiệp suông mà hòa được.
a) Trong trường hợp nước với dầu thì khó mà hòa được
Trên đời, người người đều có tánh tình khác nhau. Mỗi làng, mỗi xứ, mỗi nước tùy theo phong thổ, tùy theo địa thế, tùy theo chế độ nước nhà cho đến sự ăn mặc, nhà ở, bởi khí huyết, tình thức, mỗi người đều không ai giống ai. Nay muốn hòa, thì chẳng phải một bên mà hòa được. Phải đồng lòng với nhau, hy sinh tiểu tiết, giữ vững đại tiết, nghĩa là chọn một mục đích chung mà phụng thờ.
Phải lập một đời sống mới theo lẽ Chánh đạo, ai tập liền chưa được thì phải tập lần hồi. Cái tánh tình của ta có bây giờ đâu phải là tánh Thiên phú tự nhiên, mà đều do sự tập quán nhiều ngày mà thành đó thôi (L’habitude est une seconde nature). Ai có chí dõng mãnh thì nên tập lần lần, bỏ thói quen cũ không tốt, thì cũng có thể trở lại tánh lành xưa. Nhà Phật gọi phép tu nầy là huân tập, lấy điều lành mà xông ướp vô minh cho điều dữ tiêu tan, nên cũng gọi là tu Chỉ Quán.
Chỉ là dứt điều ác, ngăn đường tà, lần lần trừ dẹp trược nhiễm. Quán là thẩm xét muôn việc đều giả, chỉ có bổn thể nguyên lý là chơn, lần lần nuôi lớn tịnh duyên, giác tâm phát lộ, thì làm sao mà không hòa.
Kìa câu liễn của Tề Vật Đàn:
Tề chúng tánh dĩ vi nhứt tánh,
Vật hữu hình nhi trí vô hình.
Có phải nhắc nhở người đạo Minh Lý tu hành phải quy nhứt tánh chăng? Có phải khuyên dẹp hết các hình tướng chăng?
b) Trường hợp nước tan đường một phần, tới mức độ nào đó thôi
Đó là nói ban đầu mới hiệp thì hòa, rồi sau có sự xích mích nhau mà trở lại bất hòa, chia rẽ, chống báng nhau.
Tại sao?
Vì ban đầu cùng nhau thành thiệt thì cái chi cũng tốt cả. Sau lâu ngày vì quên lãng mục đích của Đạo và lêu lổng không rõ tiêu ngữ của Đạo nên tha hồ để cho dục vọng làm chủ mình.
Cuốn Đạo Học Chỉ Nam nói: “Hiệp hòa không phải là buông thả con người vào đám đông để mặc cho sống đời trôi dạt. Hiệp hòa không phải chỉ một điều tiêu cực, là theo thiên hạ và chạy đua cùng thiên hạ.
Hiệp hòa cùng tha nhơn, mà không thực thi lấy cái mục đích đã định, thì sự hiệp hòa chẳng đúng với chính danh của nó. Hiệp hòa là phương tiện hữu hiệu, đối với tất cả cá nhơn muốn đi đến một xã hội an bình, một thế giới tiến hóa trong tương ái, tương thân”.
2. Sau đây là nghĩa chữ Ái
Ái nghĩa là yêu thương kẻ khác, coi kẻ khác như thân thể tay chơn của mình.
Thân thể tay chơn của ta lành mạnh thì ta vui. Còn thân thể của ta đau ốm thì ta khổ. Có người nào chẳng lo thân thể, chơn tay mình đặng lành mạnh, cho đặng vui vẻ. Có người nào thấy thân thể, chơn tay mình bịnh hoạn, mà chẳng tìm phương điều trị cho hết đau đớn khổ sở.
Nhưng chữ Ái nói đây chẳng phải là tình yêu thương theo lối thường tình, chật hẹp cho thân mình, cho những người gia quyến mình, mà yêu thương đó phải nới rộng rãi một cách vô tư cho đến người xã hội nhơn quần, cho đến tất cả người trong thiên hạ.
Đạo Học Chỉ Nam nói: “Một tình thương cao thượng thiêng liêng sẽ giải quyết được vạn sự kiện của nhơn sinh. Dòng nước bản thể luân lưu, trong các hình tướng biến hiện, sẵn có đủ vô lượng tánh để soi rọi Chơn như (tức là Phật tánh) của vạn thể chúng sanh”.
Với cái tình thương đó, cuốn Đạo Học Chỉ Nam nói tiếp: “ … sẽ đưa con người đến mức tột đỉnh của Hồng trần nhơn loại; giác hóa sẽ mang kẻ hành giả tới chỗ Thượng thừa của Đạo Học huyền vi. Sau khi đã nhận thức phần nào hai chữ hòa ái trên căn bản tri thức, Bổn Tiết cùng chư đạo hữu xét đến những phương cách hành động. Đã xây dựng một quan niệm và thiết tha trọn lòng với ý tưởng ấy, thì việc thực hiện chỉ là thời gian, sớm muộn gì cũng thành công trong quyết định.
Một phương cách hành động hay nhứt là bớt phê phán tha nhơn, hãy thương yêu tha nhơn và dìu dẫn để đồng tiến cùng thiên hạ. Tinh thần nhơn loại đã rối cuồng, đã quá ư là sóng gió, vì lòng đạo mà đừng để nó thắc mắc vò tơ, hay ba đào bình địa thêm hơn nữa.
Đừng bảo rằng tại sao thiên hạ phải làm như thế nầy, mà không làm như thế khác. Đừng bảo rằng tại sao thiên hạ cứ cưỡng lại ý thánh của mình. Hãy xét lại tự nơi lòng mình coi có thương thật thương thiên hạ hay chưa. Nếu chưa thì hãy cố gắng thực hiện đi”.
Đây là lý do thứ ba kế theo hai trường hợp kể trên, là người hay phê phán, bình phẩm có thể gây sự bất hòa giữa người chung sống.
Vậy hai chữ Hòa Ái là con đường duy nhứt để đi đến mức cứu cánh của Đạo. Đời Đạo biết nương nhau thì mới có thể thiết lập cảnh Thái hòa, cảnh Thiên đàng Cực lạc ở cõi trần gian nầy. Vậy có thi rằng:
Tình thương chứa đựng cả muôn loài,
Trưởng dưỡng bảo tồn vốn một tay.
Võ lộ chan hòa cơn thế biến,
Hồng ân rưới nhuận lúc đời thay.
Cạn dòng bởi nước xa nguyên thủy,
Thấp ngọn vì nhà thiếu đất đai.
Biết Đạo, biết người, tu biết phận,
Thái hòa muôn vật có đâu sai.

Cái Tiêu ngữ của đạo Minh Lý gồm có ba cương lãnh, tới đây tôi đã giải trọn đủ rồi.
Hồi đời Pháp cai trị xứ Đông Dương, trên các văn kiện họ cũng nêu một Tiêu ngữ là: Tự do (liberté) – Bình đẳng (Egalité) – Bác ái (Fraternité)
Đạo Cao Đài cũng có một Tiêu ngữ là:
Tự do – Bác ái – Công bình
Còn Tiêu ngữ của đạo Minh Lý cũng gồm có ba cương lãnh, tôi xin nhắc lại, là:
Bình đẳng – Cộng tác – Hòa ái
Các nơi khác nêu lên hai chữ Tự do, mà nếu không có Bình đẳng, thì làm sao đạt tới mức Tự do. Cho nên Tự do và Bình đẳng làm nhân lẫn cho nhau. Còn Bác ái là thương rộng, mà Hòa ái của Minh Lý là dung hòa, hòa mình với thiên hạ làm một, mới là đạt tới mức cứu cánh của chữ Bác ái, của Đạo.
Tôi rất ước mong các đạo hữu chú ý đến cái Tiêu ngữ của đạo mình và ráng thực thi cho kỳ được cái Tiêu ngữ ấy, mới là gìn giữ và mở mang mối đạo Minh Lý của ba Giáo Chủ đã giao phó cho chúng ta. Về sau nầy, hạnh phúc của chúng ta, của nhơn loại cũng ở trong Tiêu ngữ đó mà ra.
Trước khi chấm dứt, nhơn ngày lễ Vu Lan Bồn hôm nay, chúng tôi hết lòng cầu nguyện Đức Phật Tổ ban ơn lành cho tất cả ông bà cha mẹ của chúng ta hiện tại và cho ông bà cha mẹ quá vãng, cho chiến sĩ trận vong, lương dân tử nạn, đặng siêu sanh về cõi Thiên đường, Cực lạc.
Rất lòng thành tín
Top