CHƯƠNG THỨ TƯ: HÀNH

24/11/2025

CẢM ỨNG - SÁM HỐI - CÔNG ĐỨC

CHƯƠNG THỨ TƯ

HÀNH

I. CẢM ỨNG

NGHĨA CHỮ CẢM ỨNG

Cảm nghĩa là xúc động. Ứng nghĩa là phản động. Nhơn có xúc động là một việc của mình làm trước, mới sanh ra phản động là sức dội lại cho mình sau. Cảm và ứng vẫn liên lạc với nhau luôn. Chưa từng có ứng, mà không có cảm.

Cuốn Kinh Cảm Ứng của Đức Thái Thượng Lão Quân khởi đầu như vầy: “Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình”, nghĩa là: Điều họa phước không có ngõ nhứt định, chỉ tại người vời lại cho mình. Dữ lành hai lẽ báo ứng, tỉ như bóng theo hình.

Đây nói lại người vời họa phước, nghĩa là: Làm lành thì đặng trả phước, làm dữ thì bị trả họa. Sự trả phước hay là trả họa (gọi là báo ứng) do việc của mỗi người làm, tự nhiên như vậy, cũng như bóng theo hình.

Đạo Phật có luật Nhân Quả, danh từ tuy khác, mà ý nghĩa vốn đồng. Chữ Nhân nghĩa là năng sanh (hay sanh sản, như hột). Chữ Quả nghĩa là sở sanh (bị sanh sản, như trái). Hễ nhân lành thì sanh quả lành, nhân dữ thì sanh quả dữ.

Cho nên Kinh Giác Thế nói rằng:

  Lẽ Trời báo ứng rất công,

Nhân nào quả ấy, trả đồng chẳng sai.

                                                                              Trồng dưa, trồng đậu thuở nay,

                                                                    Giống nào sanh nấy, có lai bao giờ.

Nhân quả có ba đời. Việc làm ở đời trước làm nhân cho quả xảy ra đời bây giờ, việc làm đời bây giờ làm nhân cho quả xảy ra đời sau. Cho nên nhân quả tuần huờn, nối nhau chẳng dứt, không hề sai chạy.

Quả báo lại phân ra có hai thứ chánh báo và y báo. Chánh báo là quả báo hiện ra chính tại thân mình. Còn y báo là quả báo phụ thuộc, hiện ra trong hoàn cảnh của mình. Nếu lấy người mà luận: Có kẻ vì chánh báo mà sanh làm con nhà vương công quý tộc, thì phải chịu cái y báo là điện ngọc lầu vàng; có kẻ khác vì chánh báo mà sanh làm con nhà nghèo khổ, thì phải chịu cái y báo là nhà dột, cột xiêu, …

PHÂN BIỆT NGHIỆP LÀNH VÀ NGHIỆP DỮ

Mỗi việc làm có ba giai đoạn:

1. Động cơ.

2. Phương tiện.

3. Kết quả.

Động cơ là ý mới phát ra đề xướng việc này việc kia. Phương tiện là hành động, công lao. Kết quả là sự thành tựu có ảnh hưởng tốt hay xấu.

Luận về chỗ căn cứ để phân biệt nghiệp lành và nghiệp dữ, Đại thừa và Tiểu thừa của Phật giáo, cũng như phái Duy tâm và phái Duy vật bên phương Tây, lập thuyết có khác nhau. Đại khái, Tiểu thừa căn cứ ở kết quả, còn Đại thừa ở động cơ. Vậy chúng ta nên xét coi hai thuyết ấy trái phải lẽ nào?

Muốn biết nghiệp lành hay dữ, Tiểu thừa chỉ xét ảnh hưởng của việc làm trong dân gian thế nào. Những việc làm hữu ích cho mình, cho người ta, thì gọi là việc lành, không luận hồi khởi làm có ý tốt hay xấu. Còn việc làm trở ngại cho sự tiến bộ, gây lắm điều rắc rối, mà không lợi chi cho sự sống của mình, thì phải nhận là không lành, dầu cho người làm việc đó có ý tốt cũng mặc.

Phái Đại thừa bàn về động cơ (Đạo giáo và Nho giáo cũng vậy, nên nói: “Chánh kỳ nghĩa bất mưu kỳ lợi”). Vì đó là mối đầu tiên manh nha trong tâm địa, thì còn gì cẩn yếu hơn nữa. Phái này rất trọng phần thơm tho trong tự tánh, chớ chẳng phải chỉ nhìn cái cử chỉ đúng đắn bề ngoài mà thôi. Họ truyền làm lành, mà trước hết trong lòng phải ham mến việc lành, nghĩa là phải hành động từ trong ra ngoài.

Phái Tiểu thừa coi kết quả đương thời, vụ sự lợi hại trước mắt, nên chỉ xét gần mà không nghĩ xa, chỉ thấy phần hữu hình, đâu rõ chỗ vô hình. Như thế, chẳng khác nào người bị cháy nhà, biệt đãi anh chữa lửa cháy da phỏng trán (tiêu đầu lạn ngạch), mà quên công kẻ kêu dặn trước kia: Phải sửa ống khói lò, dời củi ra xa (khúc đột tỉ tân).

Nói về phương tiện, có khi người ta tùy chỗ hay dở của kết quả mà định giá trị cho phương tiện. Nhưng cũng có khi, trái lại, kết quả có giá trị là do phương tiện.

Nếu không vậy, sao có câu: “Cách cho (tức là phương tiện) quí hơn của cho!”. Lại, một người giàu và một người nghèo bố thí đồng một số tiền. Chắc ai cũng cho người nghèo đặng phước đức nhiều hơn, vì họ làm ra đồng tiền công lao vất vả. Vậy sao cứ một mực chấp theo kết quả? Ở đời đâu phải trường hợp nào cũng như cảnh học trò đi thi?

Huống chi động cơ cũng gọi là cội gốc, là hột giống của mọi sự, mọi vật. Các điều chí chơn, chí thiện, chí mỹ đều ở trong đó mà phát ra. Nếu cội gốc sùng hà, hột giống không chọn lựa, thử hỏi nhành lá rườm rà, bông trái có thể thiệt tươi tốt chăng?

Bằng phát ý lành mà không chịu thi hành, thì tuy có ý, chớ cũng như không. Còn đem hết trí lo liệu, mà không trọn thành công hay là bị thất bại, do duyên cớ ở ngoài đến một cách bất ngờ (tỉ như có người thế lực ngăn trở), thì lại kể khác. Sự phán đoán lành dữ, vào trường hợp này, có thể căn cứ vào ý ngay thẳng mà thôi.

Một câu danh ngôn phương Tây có nói rằng: Tìm điều lành như vậy, với một ý chí ngay thẳng ấy là đã tìm nó đặng rồi([1]).

KẾT QUẢ BÊN TRONG

và KẾT QUẢ BÊN NGOÀI

Đức Thái Thượng Lão Quân giáng bút dạy rằng: “Chư nhu phải nhớ câu này: Người nào theo Đạo, trông mong ở kết quả mới kiên nhẫn, cần có hy vọng mới làm việc, là người không biết Đạo đó. Chư nhu biết Đạo, thì cứ một đàng đi thẳng hoài, chẳng nên vọng tưởng sẽ thành công kết quả, hoặc sẽ đặng hưởng phước. Nếu còn vọng tưởng, thì còn phải lầm lạc nhiều hơn nữa. Cứ giữ phận sự mà làm, thì ngày sau sẽ thấy rõ”.

Đây sao lại nói trái ngược với thường tình như thế? Ta nên xét kỹ: Chỗ thành công kết quả nơi đây là kết quả bên ngoài, tức là danh dự, tiền tài, … Mặc nó lại lại đi đi. Hễ ta càng đuổi theo nó chừng nào, thì lại càng xa Đạo chừng nấy. Đó chỉ là cái bóng vang, không dưới quyền trực tiếp của ta.

Trái lại, cái kết quả bên trong là làm cho lý tánh sáng tỏ, nâng cao tinh thần, do tự mình cầu hơn mình mỗi ngày. Thâu hoạch cái kết quả này cũng dễ dàng.

Sách có câu: “Tự mình hơn mình là cầu nơi mình. Muốn mình hơn người, là cầu ở người ta. Cầu nơi mình thì dễ, cầu ở người ta thì khó”. Đó là lẽ tất nhiên.

Nhưng ai tự mình hơn mình rồi, thì có thể hơn người ta được. Nếu chẳng tự mình hơn mình được, mà mong hơn người ta, thì mãn đời cũng không đạt mục tiêu, mà có khi phải lụy thân là khác. Cho nên có câu: “Muốn tính việc khó, trước phải lo việc dễ”.

Đức Khổng Tử nói rằng: “Nhân viễn hồ tai! Ngã dục nhân, tư nhân chí hĩ, nghĩa là: Đức nhân (tức là lý tánh) có phải xa đâu! Ta muốn cầu nhân, thì có nhân này tới ngay. Ý nói: Tự mình muốn cùng không muốn mà thôi. Nếu muốn thì không phải khó đặng, chính vì cái kết quả bên trong ở dưới quyền trực tiếp của ta.

Thứ kết quả này lại nhờ nghịch cảnh mà thêm phát đạt. Vì cớ đó, thầy Mạnh Tử nói rằng: “Nguy cố đạt phù tâm. Năng nguy giả, sự nãi thành hĩ. Bất tất đãi kỳ thành, nhi hậu tri vi đạt dã”, nghĩa là: Nhờ có sự nguy, sự khó, nên mới thấu vào tâm. Kẻ chịu đặng sự nguy, sự khó này, thì công phu đã thành tựu. Chẳng cần phải đợi thấy cái kết quả hiển hiện, mới biết là thấu trong tâm.

 

CẢM ỨNG LÀ ÁNH SÁNG RỌI ĐƯỜNG

Những người biết luật Cảm Ứng hay là luật Nhân Quả rồi, thì biết mỗi việc đều có kết quả chắc chắn. Hễ xu hướng về lành và lo làm lành thì sẽ đặng kết quả lành. Còn xu hướng về dữ và cứ làm dữ, thì sẽ gặp kết quả dữ. Cái kết quả lại cũng có quan hệ với sức của ta dụng công.

Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Lòng nhân quyết thắng nổi lòng bất nhân, cũng như nước quyết thắng nổi lửa vậy. Nay kẻ làm điều nhân không ra hết sức mình, như lấy một chén nước mà muốn tắt một xe củi đương cháy vậy. Lửa không tắt, bèn nói rằng: Nước không thể thắng lửa. Lời nói này trợ cho kẻ bất nhân vô cùng. Nếu không cố gắng thì phần làm nhân của mình, ít oi như chén nước kia, rốt cuộc cũng phải mất luôn nữa”. 

Vậy ta chớ thấy ban sơ chưa đặng thành công mà ngã lòng thối chí. Sách có câu: “Kinh nhứt quyết giả, trưởng nhứt trí; kim nhựt chi thất, vị tất bất vi hậu nhựt chí đắc, nghĩa là: Bị vấp một lần, sẽ đặng mở thêm một phần trí; ngày nay thất bại, chưa chắc ngày sau chẳng nhờ đó mà đặng thành công.

Dẫu rằng kết quả chưa phát kịp sớm, chớ công phu kia sau này chẳng hề luống mất. Cho nên người ta mới phát lòng tinh tấn, mà đi tới trong việc tu nhân lành. Họ sống trong một cảnh điềm nhiên lòng thêm dạn dĩ vô cùng. Đời của họ sẽ đặng trong sạch, vững vàng và vui vẻ.

Khi gặp một cái quả báo đau đớn bên ngoài, ta cứ vui lòng lãnh chịu, đặng đền đáp cho xong cái nhân chẳng lành của ta đã lỡ tạo ra. Thà là đưa nó ra sau lưng cho rồi, chẳng để nó trước mặt hoài: Một mối nợ đã trả, là bớt một mối lo.

Có khi sự đau đớn là một cuộc thử thách, để nâng các giá trị những người trình độ lên khá rồi. Vì cớ đó, thầy Mạnh Tử nói rằng: “Cho nên Trời sắp giao trách nhiệm lớn cho người nào, tất nhiên trước làm khổ cái tâm của người đó, làm nhọc gân cốt của người đó, cho cái hình thể của người đó chịu đói khát, cái thân cảnh của người đó bị túng cùng, làm trái loạn cái ý họ muốn làm, cốt để kích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, cho chỗ chưa hay, chưa biết của họ đặng thêm đầy đủ”.

Nhiều người tưởng đâu luật Cảm Ứng là chuyện bịa đặt, hoang đường, mà không dè nó là một cái ánh sáng để rọi bước đường cho tất cả chúng sanh. Có hiểu luật này mới không dám tạo nghiệp ác, mà cần lo tu nhân lành. Muốn không tạo nghiệp ác, thì nên biết phép sám hối. Muốn cần tu nhân lành, thì phải rõ nghĩa công đức.

Sám hối và công đức cũng là cách vật, trí tri.

Những lời giải trong sách này càng thêm rộng chừng nào, lại càng thấy rõ cách vật, trí tri là hai phương pháp bất di, bất dịch trong Đạo Tam giáo.

II. SÁM HỐI

NGHĨA CHỮ SÁM HỐI

Chữ Sám là tiếng Phạn (một thứ chữ Ấn Độ) mà người Hoa âm ra, có khi cũng âm sấm, âm xoa chứ không phải là chữ Nho. Trọn chữ là ksamayati (sám- ma-gia-ti) nghĩa là hối quá (ăn năn tội lỗi).

Lấy hai chữ: Sám, chính là tiếng Phạn và Hối là chữ Nho, cũng đồng một nghĩa, hiệp lại làm một chữ kép là Sám Hối. Thành thử trong chữ sám hối có hai thứ tiếng: Nửa Ấn Độ, nửa Trung Hoa. Trong kinh Phật, những chữ kép, hiệp theo cách đó cũng nhiều.

Đức Huệ Năng Lục Tổ là Ông Tổ thứ sáu của phái Thiền Tông (đạo Phật bên Đông Độ) có kêu các môn đệ mà hỏi rằng: Sao gọi là sám? Sao gọi là hối?

Sám là khai tội trước của mình đã phạm; từ trước, các phần ác nghiệp thuộc về ngu mê, dối gạt, tật đố, nay đều khai ra hết cả, đời đời chẳng còn gây ra nữa.

Hối là chừa bỏ lỗi sau, từ này về sau, các phần ác nghiệp thuộc về ngu mê, dối gạt, tật đố, nay đã tỉnh ngộ biết rồi, đời đời quyết đoạn dứt hết, không còn tái phạm.

Cho nên gọi là sám hối. Kỳ thiệt, hai chữ đồng có một nghĩa mà thôi.

Đạo Gia Tô gọi phép này là xưng tội.

Đại khái, sám hối có hai cách là: Sự sám và lý sám.

SỰ SÁM

Đức Thái Thượng Lão Quân giáng bút nói rằng: “Trong đạo Thiên Chúa, mỗi người đều có xưng tội trong tuần lễ. Còn Đạo ta thì không có, nên cần phải nghe kinh mỗi khi cúng cầu an, chăm chỉ nghe đặng biết lỗi mà sửa mình. Đó cũng như là xưng tội vậy”.

Mỗi tháng hai kỳ, là ngày sóc (tối 30, tháng thiếu tối 29, rạng mặt mồng một) và ngày vọng (tối bữa 14, rạng mặt rằm), chúng tôi tề tựu tại chùa, trước là cầu an cho bá tánh, sau là làm lễ sám hối. Cuốn kinh của chúng tôi đọc theo lễ này gọi là Kinh Sám Hối, vì trong đó có chỉ rõ tội, phước cho người biết mà sửa mình, cũng như cuốn luật của nhà Phật vậy.

Số là ta với chư Phật, chư Tiên cũng đồng lấy làm tánh, không phải khác nhau. Nhưng xét lại hành vi của ta thấp hèn, dối giả, bị khinh khi nên ta sanh lòng hổ thẹn.

Hổ thẹn có hai thứ nên phân biệt là: tàm và quý

a) Tàm: Không biết tội lỗi mà làm, hay là biết mà vô ý phạm, ngày nay hiểu rõ, nên có ý mắc cỡ, ăn năn gọi là tàm. Tàm là dựa vào sức hiểu biết của lương tâm. Cho nên người vào Đạo phải học thuộc lòng luật lệ, y pháp mà hành trì, mới tránh được các chỗ sai lầm đáng tiếc.

b) Quý: Mỗi lần mình bị dục vọng lôi cuốn làm điều trái lẽ, vừa thấy bực Thánh Hiền, hàng sư trưởng, thì sanh lòng áy náy, thì gọi là quý. Bởi thấy người làm lành, mà mình cũng như người, sao lại không bằng người, nên trong dạ chẳng yên.

Quý, là dựa vào sức lành của người khác để chống trả với các điều dữ, cho nên trong Đạo cần phải có người xứng đáng, để làm tiêu biểu cho kẻ khác xem đó làm gương.

Bởi cớ đó, kẻ chưa thấy được Đạo, gặp người có Đạo rồi xét lại mình, thì liền sanh lòng tàm quý. Người đã thấy Đạo rồi, nếu gặp kẻ hành đạo có đức, cũng sanh lòng tàm quý. Lại kẻ hành đạo khi gặp người chứng Đạo, càng thêm sanh lòng tàm quý, mới có thể chứng Đạo. Người chứng quả trong thập địa, nếu thấy ai chứng quả Như Lai mà mình không chứng được, xót xa mà sanh lòng tàm quý. Cho nên tàm quý từ bực phàm phu suốt thông tới ngôi Phật.

Nếu ta thường làm tội, dầu tội nhỏ đi nữa, lâu ngày tụ thiểu thành đa, thì khi mạng chung không khỏi đọa vào chốn tam đồ ác đạo, nên nghĩ tới bèn sanh lòng sợ hãi. Cái tâm biết hổ thẹn, biết sợ hãi đó, thổ lộ ra ngoài bằng cách xưng tội và lạy tạ Phật Trời, thế thì gọi là sự sám.

Cốt yếu của phép sám hối là phải thành thiệt nhìn lỗi của mình đã phạm, rồi thệ nguyện chắc chắn không dám tái phạm cái lỗi ấy nữa. Nếu chỉ biết làm việc trước là nhìn lỗi, mà bỏ việc sau là chừa lỗi thì chẳng thành phép sám hối.

Cho nên Đức Lục Tổ có nói rằng: “Kẻ phàm phu ngày mê, chỉ biết xét thấy tội lúc trước mà chẳng biết ăn năn về sau. Bởi cớ chẳng biết ăn năn về sau, nên tội trước không dứt mà lỗi sau lại sanh, thì sao gọi là sám hối?”.

Đức Khổng Tử cũng có nói: “Như mình có lỗi, mà người ta đem lời phải mà răn mình (pháp ngữ chi ngôn), chắc là mình phải nghe theo, nhưng phải biết sửa lỗi mới là quý Nếu chỉ nghe theo trước mặt mà không hay sửa lỗi, người như thế thì ta cũng không làm sao được (Luận Ngữ).

Những người nhìn lỗi, mà không lo sửa lỗi, thì Đức Lục Tổ và Đức Khổng Tử không cho là phải. Còn những người tới chùa lạy Phật sám hối, mà không chịu nghe kinh, nghe giảng, để nhìn biết lỗi mình, thì lại còn cách xa hơn nữa. Chẳng cần nói, ai cũng biết cách sám hối đó là thế nào rồi.

LÝ SÁM

Theo phép chơn sám hối, đã biết tội lỗi rồi thì không nên tưởng lâu tới tội lỗi đó nữa, mà có hại cho tâm đức. Vì nếu chú ý hoài đến sự lầm lạc, e sự lầm lạc vấn vương trong lòng, thì làm sao đặng giải thoát? Cần phải suy gẫm tới gốc của tội lỗi, mới biết tội lỗi là huyễn hư, Lý tánh là chơn thiệt. Làm như vậy mới thiệt là hữu ích.

Kinh Du Già Diệm Khẩu nói:

                                                                   Tội tánh bổn không, do tâm tạo,

                                                                   Tâm nhược diệt, thời tội diệt vong.

                                                                   Tâm vong tội diệt, lưỡng câu không,

                                                                   Thử tắc thị danh chơn sám hối.

Nghĩa Nôm:

                                                                   Tánh tội vốn không, tâm tạo nhân,

                                                                   Tâm bằng quên hết, tội tiêu lần.

                                                                   Tội tiêu tâm diệt, hai bên dứt,

                                                                   Đó mới gọi là sám hối chơn.

Lý tánh trước kia vốn là trống rỗng, chẳng có vật chi trong đó hết. Ta xét lại: Tội chẳng phải ở trong, chẳng phải ở ngoài, cũng chẳng phải ở giữa. Bổn lai của nó vẫn là không, chỉ do tâm tạo nhân duyên điên đảo mà có. Phép xét này gọi là “Quán tội tánh không”, nghĩa là: Xét cái tánh của tội lỗi không phải thiệt có.

Vậy muốn bỏ tội ác, thì cứ dẹp những nhân duyên điên đảo ở ngoài là xong. Dẹp bằng cách không để cho những nhân duyên ấy làm rối loạn tâm điền, rồi sau mới có thể phát biểu các đức lành tốt sẵn có trong Lý tánh.

Kinh Phổ Hiền Quán dạy rằng: “Nhược dục sám hối dã, đoan tọa quán thiệt tướng, tội nghiệp như sương lộ, Phật nhựt năng tiêu trừ, nghĩa là: Bằng muốn sám hối, ngồi ngay thẳng, xét tưởng tướng chơn thiệt (chỉ Lý tánh); tội nghiệp như sương mù, mặt nhựt của Phật làm tiêu hết.

Vậy thì phép sám hối cũng phải căn cứ vào Lý tánh, mới có hiệu quả thiệt tốt. Ta thấy Lý tánh rõ ràng chừng nào, thì tội ác tự nhiên tiêu mau chừng nấy. Tỉ như sương móc gặp mặt trời mọc lên thì liền phải tiêu, chẳng cần có ta để ý trừ bỏ.

Phép sám hối này ở trong Lý tánh của mình phát ra, chớ chẳng phải việc làm hình thức bề ngoài, nên gọi là vô tướng sám hối hay là lý sám.

SÁM HỐI LÀ PHÉP TIÊU CỰC

Cuốn Tu Chứng Nghĩa của phái Tào Động (Thiền Tông) nói: “Nghiệp dữ trong ba đời, tuy mình phải gánh chịu (theo luật Nhân Quả), nhưng nếu ai hay sám hối, thì nghiệp nặng cũng ra nhẹ, hay là được tiêu diệt luôn”. Cho nên biết chắc công dụng của phép sám hối là lớn lắm. Nhưng đó chẳng qua là một phép tiêu cực, nghĩa là bớt lầm lạc, tiêu tội ác mà thôi.

Cái tâm của ta cũng như miếng đất của người làm vườn. Phải cần lo nhổ cỏ, dọn đất. Khi nhổ cỏ, dọn đất rồi, phải lo vun vén giống lành sẵn có, thì nó mới nứt mộng nẩy mầm, phát lớn lên được. Bằng không, cỏ kia sẽ mọc lại, mà xâm lấn hột giống lành nữa.

Lại nên nhớ: Lúc ban sơ, hột giống mới mọc cái mầm còn yếu, thì cần phải trông nom nó luôn. Đến khi cây lớn, cành lá sum sê rồi, thì cỏ kia mới không làm hại nó được nữa.

Sám hối và công đức cũng quan hệ với nhau như thế đó: Sám hối rồi phải lập công đức. Ban đầu, phải sám hối nhiều để giải oan khiên, nghiệp chướng, cũng như nhổ cỏ. Đến sau, lập công đức khá rồi, Lý tánh đã hiện rỡ ràng, cũng như cây lớn, thì tội lỗi không còn lôi cuốn ta được. Tự nhiên, sự sám hối cũng theo đó mà dứt. Dẫu còn chút đỉnh sai lầm, thì cũng như các bực Bồ Tát còn vi tế vô minh mà thôi. Bồ Tát chứng đặng quả Phật, mới là hoàn toàn giải thoát.

III. CÔNG ĐỨC

NGHĨA CHỮ CÔNG ĐỨC

Thông thường, người ta hiểu rằng: Công là tiếng chỉ việc lành, việc phải. Đức là nói về tâm biết lành, biết phải. Đức cũng có nghĩa là đặng. Theo nghĩa này, công đức là nhờ làm nên việc lành, việc phải nơi ngoài, mà đặng lành, phải trong tâm.

Trong kinh Phật có câu: “Thí vật danh công, quy ký vi đức, nghĩa là: Bố thí cho người một vật chi gọi là công, nhận cái công ấy về cho mình gọi là đức. Đây là căn cứ ở việc lành ngoài, lấy chỗ kết quả mà phán đoán, bắt từ ngoài mà đi vô trong, là theo nghĩa của phái Tiểu thừa rồi.

Phái này thường gọi cất chùa, trợ sãi, bố thí, cúng dường là công đức. Nhưng Đức Lục Tổ cho những việc đó là phước đức chớ không phải công đức.

Trong Pháp Bửu Đàn Kinh, Ngài có dạy rằng:

Công đức ở trong pháp thân (tự tánh), chớ không phải ở chỗ cầu phước.

Niệm tưởng suôn sẻ, hằng thấy bổn tánh, toàn thiệt diệu dụng, gọi là công đức.

Trong lòng khiêm nhượng, hạ mình gọi là công; ngoài làm mỗi việc đúng theo lễ độ gọi là đức.

Tự tánh sáng lập mọi sự, mọi việc, gọi là công; bổn thể của tâm lìa hết các thứ niệm lự gọi là đức.

Nếu muốn tìm công đức pháp thân, chỉ y theo đó mà làm, mới là chơn công đức.

Tự mình tu tánh gọi là công, tự mình tu thân gọi là đức.

Này thiện trí thức! Công đức chỉ đặng thấy ở trong tự tánh mà thôi, chớ không phải tìm cầu ở trong việc bố thí, cúng dường. Cho nên công đức khác với phước đức”.

Cứ theo lời Tổ Sư dạy trên: Tự mình tu tánh ở trong gọi là công, rồi do công ấy phát diệu dụng ra ngoài gọi là đức, thì đủ thấy cái nghĩa sau này không đồng với cái nghĩa trước kia. Vì đây nói trái lại: Công ở trong tự tánh, nghĩa là mỗi công việc làm phải thuận lý, theo mạng lịnh của tự tánh.

CHỚ LẦM TƯỞNG

PHƯỚC ĐỨC LÀ CÔNG ĐỨC

Người ta thường dùng hai chữ đôi này: phước đức công đức, lẫn cho nhau. Cả hai đều chỉ việc lành đã làm. Hễ người nào làm rồi việc lành, thì đặng chấm công hưởng phước, ai ai cũng vậy.

Trong Pháp Bửu Đàn Kinh, Đức Lục Tổ phát minh chỗ công đức khác với phước đức. Tuy cũng đồng là việc lành, nhưng nếu việc lành đó không phát ở trong tự tánh, thì gọi là phước đức, chớ không phải là công đức.

Khi Đạt Ma Sơ Tổ từ Tây phương mới sang Đông Độ, trước hết tới độ vua Lương Võ Đế. Nhà vua hỏi Tổ rằng: “Một đời trẫm lo cất chùa, trợ sãi, bố thí, trai đàn. Làm như vậy có công đức chi?”. Sơ Tổ trả lời: “Thiệt không có công đức”.

Đức Lục Tổ nói: “Võ Đế tâm tà, không rõ chánh pháp. Cất chùa, trợ sãi, bố thí, trai đàn, gọi là cầu phước. Chẳng khá lấy phước mà làm công đức”.

Tại sao? Bởi lòng người còn vọng tưởng cầu phước, vụ sự ích kỷ lo riêng, chẳng phải xét lẽ công chánh, đáng phải làm mà làm. Đó là Lý tánh (chơn ngã) bị dục vọng ám mờ, con người ở dưới quyền thức thần (giả ngã) sai khiến, chớ không có tự chủ.

Thức thần là lục căn hiệp với lục trần mà sanh ra. Lục trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) ở ngoài biến thiên, thì thức thần cũng biến thiên mãi mãi. Cho nên việc làm dưới quyền sai khiến của thức thần không đặng bền bỉ, nay vầy mai khác.

Tỉ như người thấy có danh, có lợi thì làm, còn coi thế khó hưởng thì nghỉ. Kẻ kiêu căng nghe tiếng khen ngợi thì tiến tới, khi gặp cảnh nghịch thì thối lùi. Thức thần biến ra muôn hình ngàn trạng, không sao kể xiết, nhưng chẳng qua là vì danh, vì lợi mà thôi.

CHƠN CÔNG ĐỨC Ở TRONG LÝ TÁNH

Công đức này gọi là vô lậu tánh công đức. Vô lậu nghĩa là không lọt mất.

Người tu công đức vô lậu chỉ làm những việc mà mình cho là lành, là phải mà thôi. Họ không xu hướng ra ngoài, mà trông hưởng một quyền lợi nào cả. Những lực lượng xu hướng ra ngoài, do lòng ích kỷ, đều tiêu tan, lãng phí. Phải biết kềm chế mà đem nó trở ngược vào trong, thì cái lực lượng này súc tích lâu ngày, sẽ tạo ra một cái ý chí vạn năng, cái tâm đức giống như của Tiên Phật vậy.

Thầy Mạnh Tử dạy nuôi khí hạo nhiên([2]), có nói rằng: “Thị tập nghĩa sở sanh, phi nghĩa tập nhi thủ chi dã. Hành hữu bất khiểm ư tâm, tắc nỗi dã. Ngã cố viết: Cáo Tử vị thường tri nghĩa, dĩ kỳ ngoại cầu chi dã, nghĩa là: Cái khí hạo nhiên tự các điều hiệp nghĩa (do cái tâm thể lưu hành) nhóm lại mà sanh ra, chớ không phải góp nhiều điều hiệp nghĩa (ở vật ngoài) mà cầu lấy được đâu! (Nên để ý: Chữ sanh là từ trong mà phát ra ngoài, còn chữ thủ là chụp lấy ở ngoài). Việc làm không đặng thỏa mãn trong lòng, thì cái khí ấy phải yếu. Nên ta nói: Cáo Tử chưa từng biết điều nghĩa, là bởi tìm điều nghĩa ở ngoài tâm.

Cáo Tử là người đề xướng nhân nghĩa ở ngoài tâm, nên bị thầy Mạnh Tử công kích dữ dội trong thời kỳ đó.

Cho nên muốn biết đức tánh của người nào, thì chớ ngó vào công việc lớn lao của họ làm trong một lúc. Vì trong một lúc, tên thất phu có thể trở nên một vị anh hùng. Hãy xét coi bình thường người ấy cư xử thế nào, chỉ có việc bình thường phải làm luôn luôn, mới có thể biểu lộ chắc chắn đức tánh của con người.

Đương cảnh nghiêm trọng, dầu người thấp hèn tới đâu, cũng ráng làm được một việc đúng đắn. Mà chỉ có người tu chơn công đức, mới là có tánh hùng dũng, giữ một lòng, một đức cho tới cuối cùng (chí tử bất biến), bất kỳ ở vào hoàn cảnh nào, ở vào thời kỳ nào.

LƯỢC GIẢI VỀ PHÉP SONG TU

Song tu nghĩa là tu tánh và tu mạng. Tu tánh đã giải rồi phía trước. Còn tu mạng là luyện khí.

Bực thượng căn, thượng đức vừa nghe Đạo, thì thẳng một nước vào cảnh Như Lai: Tu tánh tức là tu mạng, liễu tánh thì liễu mạng luôn, nghĩa là: Trong công phu tu tánh có công phu tu mạng. Hễ tu tánh rồi thì tu mạng cũng xong. Phật gọi là đốn giáo. Đốn nghĩa là lập tức, một lần là xong.

Còn bực trung căn và hạ căn phải theo từng lớp mà đi lần tới: Tu tánh rồi tu mạng (tận tánh nhi chí mạng), tu mạng rồi tu tánh cho tới trọn xong (tu mạng nhi liễu tánh). Phật gọi là tiệm giáo. Tiệm nghĩa là tiến chẫm rãi theo thứ tự, đẳng cấp.

  1. Làm các việc lành, việc phải theo lương tâm, lý tánh, là tu tánh. Tu tánh như vầy có thể xem kinh sách, tìm hiểu, chiêm nghiệm mà tu, thuộc về mặt phổ thông. Nhưng tu tánh nói đây còn ở trong phần âm khí.
  2. Luyện khí Hậu thiên phản Tiên thiên, nghĩa là Khảm Ly trở lại Kiền Khôn, tức là tu mạng. Trong bài khẩu quyết của đạo Minh Lý, có câu:

                                                                      Tối diệu thâm Đại Đạo,

                                                                      Phật Tiên chẳng khác nào.

                                                                      Khí âm dương hiệp nhứt,

                                                                      Lấy Khảm đắp Ly hào.

                                                                     Trở lại Kiền Khôn quái,

                                                                      Là mối Đạo rất cao.

Đạo Đức Kinh (chương 16) nói: “Quy căn viết tịnh, tịnh viết phục mạng, phục mạng viết thường, tri thường viết minh, nghĩa là: Trở về cội gốc gọi là tịnh (yên lặng), tịnh gọi là phục mạng (tức là tiếp mạng, khiến cho khí suy rồi huờn lại vượng), phục mạng gọi là thường (hằng còn), biết cái thường gọi đó là Minh.

Đây lại là một nghĩa khác, cao hơn một bực, của chữ minh trong hai chữ đạo hiệu: Minh Lý. Chính đó là công phu yếu diệu của Đạo giáo, cũng gọi là: Luyện kim dịch huờn đơn, hay nói tắt là: Luyện kim đơn.

Tu như thế gọi là tu Lạc Thơ trở lại thành Hà Đồ, là tu hữu vi. Cho nên cuốn Kim Tiên Trực Chỉ nói: “Tánh phận chỉ công thật thị phu mạng chi cực tắc, nghĩa là: Công phu tu tánh (nói trước) thiệt là phép rất hay để giúp phép tu mạng.

Tu mạng phải có thầy dạy chánh pháp mới kham, thuộc về biệt truyền. Thứ tự công phu có ghi nơi bài Qui Y Tăng, trong Kinh Giác Thế. Tu mạng mới đổi âm ra dương, Hậu thiên phản Tiên thiên. Tới đó tánh mạng hiệp nhứt, qui về một điểm Thái cực.

Theo chánh pháp, tâm khí chẳng bao giờ rời nhau. Trước phải dùng tâm chế khí, sau lấy khí trị tâm. Nếu khí còn thô, thì tâm loạn động, dễ sanh các thứ tình dục. Vì cớ đó, phải luyện khí, rồi sau trở lại tu tánh, mới đặng hoàn toàn giải thoát.

  1. Còn trở lại tu tánh nữa, thì mới thiệt chứng quả Chơn nhơn. Tu như thế gọi là tu lý Hà Đồ, là tu Vô vi. Tuy đây nói tu tánh, kỳ thiệt là qui về Vô cực chơn không. Đã rằng chơn không, thì còn chi mà nói là tánh, là mạng?

Nhưng chơn không chẳng phải là trống không. Phải biết trong chơn không lại có diệu hữu, nghĩa là: Có vô lượng nghĩa lý, có công đức nhiều còn hơn cát sông Hằng nữa.

Phải song tu tánh mạng, thì mới trọn thành công. Vì người ta thường thiên về một bên, cho nên Đức Lữ Tổ nói rằng: “Tu mạng bất tu tánh, thử thị tu hành đệ nhứt bịnh. Tu tánh bất tu mạng, vạn kiếp âm linh nan nhập thánh, nghĩa là: Tu mạng mà không tu tánh, đó là cái bịnh thứ nhứt của người tu hành. Còn tu tánh mà chẳng tu mạng, thì muôn kiếp tánh vẫn còn thuộc âm, không vào được cõi Thánh.

Vô Cực Đồ Thuyết nói: “Phù Đạo giả, tánh dữ mạng nhi dĩ. Tánh vô sanh dã, mạng hữu sanh dã, nghĩa là: Đạo chẳng qua là tánh với mạng mà thôi. Tánh thì không sanh, tức là cũng không diệt. Còn mạng thì có sanh, tức là cũng có diệt. Mà mạng tức là khí, cho nên trong bài Tổng Luận ở đầu sách có nói: “Muôn vật sanh diệt là do khí”.

“““

 

 

([1])Chercher ainsi le bien, avec une volonté droite, c’est déjà l’avoir trouvé.

([2])Sách Nho giải nghĩa khí hạo nhiên chẳng phải là một thứ khí ở ngoài tâm. Nó chỉ cái trạng thái đốc tín (tin chắc) kiện hành … (hăng hái về việc làm) ở trong ý chí. Lúc nó tiềm ẩn, thì thế lực của nó rất là an tịnh. Khi nó phát động, thì tác dụng của nó rất là hoạt bát. Đứng về phương diện động tác mà nói, khí hạo nhiên tức là công dụng của đạo nhân nghĩa, chớ không chi khác.

 Thuyết của Thầy Mạnh Tử cũng có hai mặt: Tiêu cực và tích cực. Tiêu cực là cầu kỳ phóng tâm (như cách vật dục). Tích cực là dưỡng hạo nhiên khí (như trí lương tri).

Tin tức liên quan

Top