24/11/2025
KẾT LUẬN
CHƯƠNG THỨ NĂM

“Tam tài nhứt lý, Tam giáo nhứt tâm”, nghĩa là: Trời, Đất, Người chỉ có một lý; Nho, Thích, Đạo chỉ có một tâm. Đó là câu kết của quyển sách này. Nhưng lý ở trong tâm, tâm chẳng rời lý. Thế thì Tam giáo, Thánh nhơn luận tâm, cốt để cầu lý mà thôi.
Ông Châu Liêm Khê (Nho giáo) đề xướng câu: “Thánh nhơn chủ tịnh lập nhơn cực”, nghĩa là: Bực Thánh nhơn lấy sự tịnh làm cốt để lập tư cách tối cao cho loài người. Chữ tịnh này nghĩa là theo lý mà hành động. Cho nên tuy tâm thù đáp lăng xăng, mà vẫn là tịnh. Còn theo dục, tuy tâm trai tọa vong, mà vẫn là động.
Đơn kinh nói: “Động trung luyện thần”, nghĩa là: Luyện thần ở trong chỗ động. Thần thì phải tịnh; nhưng muốn cầu tịnh thì phải tìm tại gốc sanh của nó là động. Chữ động này là cử chỉ nhằm lẽ trong khi giao thiệp. Chớ không phải thứ động quấy của kẻ còn tham vọng đi tìm để thỏa thích tình dục của họ đâu!
Đức Lục Tổ lại nói: “Nhược mích chơn bất động, động thượng hữu bất động. Bất động chi bất động, vô tình vô Phật chủng”, nghĩa là: Nếu muốn tìm cách thiệt chẳng động (tức là tịnh), thì cái chẳng động ấy ở trong chỗ động. Bằng hiểu chẳng động là không làm chi hết, thì đó là loài vô tình (như đất, như đá) không phải là hột giống sanh Phật.
Tam giáo tuy dạy tịnh công, mà trong tịnh có động hạp lý. Nhưng phần đông người ta hay xem thường thứ tịnh công này, mà lại chuộng thứ tịnh tiêu cực. Tịnh tiêu cực là ở không nhưng chẳng làm chi hết, thành ra ngoan không (cái không khô khan, chẳng sanh hóa). Tu như thế thì chỉ đặng chứng tiểu quả mà thôi.
Tu công đức mới thiệt là phép tịnh tích cực. Các vị Bồ Tát đều do con đường này, mà đi thẳng về cõi Niết Bàn Cực Lạc.
Niết Bàn Cực Lạc không phải là một chỗ ở có hình thức, như nhiều người tưởng lầm. Đây là chỉ cảnh giới tinh thần, ở trong tâm địa người ta, gồm có ba đức lớn: sáng suốt (đầy đủ các thứ công đức), tự do (không bị dục vọng kềm thúc) và yên vui (mỗi việc làm ra đều thỏa lòng).
Phật vì muốn mở chánh tri kiến cho chúng sanh, nên mới vào cảnh thế gian([1]). Nếu người tu hành không chịu hiểu như thế, cứ đeo đuổi hạnh phúc hữu hình bên ngoài theo thế tục, thì chẳng những rốt cuộc bị thất vọng, mà lại còn gặp lắm điều đau thương khổ sở là khác.
Đành rằng lý của Đạo là cao siêu và chúng ta còn ở trong đời ngũ trược([2]), thì không thế nào theo lý cho trọn được. Nhưng chúng ta khá nhớ câu của Phật dạy: “Nhứt thiết duy tâm tạo”, mà cứ lo tu bổ tâm điền. Sách Luận Ngữ cũng nói: “Chánh kỷ nhi vật chánh”, nghĩa là: Sửa mình cho chánh, thì tự nhiên vật xung quanh mình đặng chánh.
Nếu tâm ta tốt rồi, thì thân thể và hoàn cảnh cũng thay đổi ra tốt. Ban sơ, tuy chúng ta thấy khó mà sau này cái khó cũng hóa dễ. Có khi bên ngoài, chúng ta không thể theo trọn chơn lý, mà bên trong, bất kỳ là lúc nào, chúng ta cũng phải ráng giữ nó luôn luôn.
Kinh xưa nói: “Nội phương nhi ngoại viên”, nghĩa là: Trong vuông mà ngoài tròn. Ý nói: Ở trong phải tu lý tuyệt đối (nghĩa là giữ chắc một mực như hình vuông nằm trơ một chỗ); còn ở ngoài phải tu lý tương đối (nghĩa là phải quyền biến, xây trở theo đời, như hình tròn lăn chuyển khắp nơi). Đức Thái Thượng lấy quẻ Trạch Lôi Tùy mà giải hai chữ Minh Lý, cũng là có ý đó.
Ba vị Giáo Chủ, bởi chữ Tùy đó, lập phương pháp độ chúng sanh có khác nhau: hoặc dùng sự, hoặc dùng lý, hoặc dạy hữu vi, hoặc dạy vô vi, hoặc luận hữu thần, hoặc luận vô thần…
Phương pháp tuy nhiều, mà không ra ngoài hai nguyên tắc lớn là: cách vật và trí tri, cốt để làm sáng tỏ lý tánh, tức là Minh Lý vậy.
Theo như trên đã giải, ngoại trừ bực thượng căn, những người trung căn và hạ căn phải theo thứ tự mà đi lần tới. Nghĩa là phải chia ra nhiều lớp mà học. Đó là cũng vì chữ Tùy.
Trong Tam giáo, mỗi thuyết có một sở trường:
1. Ban sơ tu tánh, nhưng cái tánh của mình là âm tánh, thuộc Hậu thiên. Đây là lớp đầu, học giả còn theo phép thế gian, nên lấy Nho giáo làm gốc.
2. Kế đó tu mạng, luyện khí Hậu thiên phản Tiên thiên, Lạc Thơ huờn lại Hà Đồ. Tới lớp giữa, học giả căn cứ vào Dịch lý, lấy Đạo giáo Kim đơn làm trụ cốt.
3. Sau rốt, trở lại tu tánh nữa, mới là đặng hoàn toàn gỉải thoát. Lên lớp cao, học giả phải chuyên học Phật giáo Thiền tông: “Chỉ ngay tâm người, thấy tánh thành Phật”.
Một cái lý thuyết của Đạo, muốn cho hoàn toàn thì cần phải gồm đủ các sở trường đó. Thế thì có nên qui nhứt Tam giáo hay không?
Chúng tôi chỉ chọn mà giải ra đây những phương pháp phổ thông để thi hành. Miễn là thiệt hiểu và hết lòng làm theo đó, thì công phu lớp học đầu chắc sẽ thành tựu. Xin độc giả chớ vội chê những phương pháp ấy, mà không suy xét tới chỗ rất hữu ích về mặt thiệt hành, nhưng theo lý thuyết khó nói ra cho tường tận.
Nếu có người hoặc chưa hiểu rõ các phương pháp đã nói, mà thi hành cho chính chắn, hoặc là ở nhà tư chẳng tiện thi hành các phương pháp đó, hoặc là tự một mình không đủ nghị lực để tu tập, … thì chúng tôi xin khuyên thường tới chùa, trước là lễ bái Phật Trời, nghe kinh nghe giảng, sau gần gũi nhau để nhắc nhở khuyên bảo nhau trong việc tu hành.
Chúng tôi xin lặp lại một đoạn chót Bố Cáo của đạo Minh Lý:
Thất Minh Lý nền chung các đạo,
Không trọng khinh Tam giáo cửu lưu.
Các Đạo đều đồng chí cần ưu,
Do đường chánh tỳ khưu tu niệm.
Chớ đem dạ tị hiềm bao biếm,
Mà trễ lo kiểm điểm hồi đầu.
Khá nương nhau tương ái tương cầu,
Ráng công biện cơ mầu lý diệu.
Bởi mê muội bít ngăn cửu khiếu,
Làm cho người khó hiểu Đạo Trời.
Nên sanh ra lầm lỗi khắp nơi,
Mau sớm kíp chung hơi giác ngộ.
Mấy lời thành thiệt, mong chư hiền nhơn, quân tử biết cho!
([1])Kinh Pháp Bửu Đàn, phẩm Cơ Duyên, nói rằng: Ngươi phải tin rằng chánh tri kiến của Phật là chỉ ở trong tâm người (đó là nói Phật ở trong tâm), chớ không phải ông Phật nào khác. Vì cả thảy chúng sanh tự mình che án sự sáng suốt của mình, mến ưa cảnh trần, bị các duyên ngoài làm cho bên trong rối loạn, cam chịu giong ruổi theo đó, làm nhọc đến Phật Thế Tôn phải lìa ngôi chánh định, dùng hết lời lẽ mà khuyên chúng sanh dứt sạch cảnh trần, đừng có xu hướng ra ngoài, thì sẽ không khác chi Phật. Cho nên nói: “Mở tri kiến của Phật”.
([2])Ngũ trược là năm thứ trược (nhơ nhớp, không lành): kiếp trược (đời tai nạn, đao binh), kiến trược (tà kiến, mê tín), phiền não trược (rầu, buồn, lo lắng), chúng sanh trược (việc làm trái lẽ của thiên hạ), mạng trược (sự sống mỏng manh).
Top